“Chiều tối” của Hồ Chí Minh

Phân tích bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh.

1. Trong nền nghệ thuật thơ ca cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh (1890 – 1969)là một đại biểu xuất sắc. Tập thơ “Nhật ký trong tù” là một móc son chói lọi trong hành trình sáng tác của Hồ Chí Minh.  Cả tập thơ là một cuộc giải bày tâm trạng tư tưởng cho một hoàn cảnh đặc biệt đó là cảnh tù đày trên bước đường hoạt động cách mạng. Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu trong tập “Nhật ký trong tù”. Bài thơ được sáng tác trên hành trình của cuộc chuyển lao. Thông qua cảnh chiều tối ở vùng xóm núi nhà thơ gián tiếp bày tỏ tâm hồn tình cảm tinh thần lạc quan yêu đời của mình. Tình cảm tư tưởng đó được nhà thơ diễn tả một cách sinh động qua hình ảnh chiều và tối.

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng”.

2.a. Bài thơ mở đầu là hình ảnh của không gian rừng núi vào lúc buổi chiều hoàng hôn. Hình ảnh buổi chiều được nhà thơ gợi tả qua hai hình ảnh đặc trưng đó là cánh chim chiều và chòm mây buổi chiều.

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Câu mở đầu bài thơ tác giả đã giới thiệu một chủ thể của không gian trời chiều đó là cánh chim chiều. Cánh chim chiều được tác giả hé lộ ở hai trạng thái đó là mệt mỏi và tìm chốn ngủ. Nhà thơ không có từ để chỉ buổi chiều nhưng người đọc vẫn cảm nhận ra buổi chiều hoàng hôn qua hình ảnh chim “tìm chốn ngủ”. Không gian hoàng hôn thì tự thân nó đã là gợi buồn đã thế cánh chim trong chiều hoàng hôn lại mệt mỏi “quyện điểu” càng gợi ra thêm điệu buồn của chiều hoàng hôn.

Không gian chiều hoàng hôn còn được thề hiện qua một chủ thể thứ hai đó là “chòm mây” chiều. Câu thơ “chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” dịch giả đã lột tả khá sát nghĩa nhưng chưa lột tả được chữ “cô vân” trong nguyên bản. Nguyên bản là “cô vân mạn mạn độ thiên không” cô vân là chòm mây cô đơn cô độc giữa trời chiều, mà đã là cô đơn cô độc thì gợi lên cái lẻ loi cái đơn chiếc cái buồn. Cái buồn đó càng được bộc lộ rõ hơn trong sự liên kết với hình ảnh cánh chim. Cánh chim thì bay về núi còn chùm mây thì lững lờ ở lại như một cảnh chia li.

Hai câu thơ mở đầu bài thơ tác giả vẻ ra không gian trời chiều hoàng hôn bằng hai nét chấm phá, bằng hai nét gợi tả là cánh chim và chòm mây. Qua hai hình ảnh này tác giả vừa gợi ra được cái thời gian đang vận động về chiều và đi vào hoàng hôn, vừa gợi tả được một không gian buổi chiều lạnh vắng man mác buồn. Đằng sau bức tranh cảnh chiều là sự hé lộ tâm trạng của người tù bị giải đi của thi nhân Hồ Chí Minh đó là tâm trạng có sự len thấm cảnh buồn của cảnh buồn trời chiều. Và cái buồn này cũng là rất tự nhiên bởi vì thời điểm hoàng hôn đó thì chim về rừng người về tổ còn Hồ Chí Minh bị giải đi vô định chẳng khác gì chòm mây cô độc giữa tầng không.

b. Nếu như hai câu thơ trên giới thiệu cảnh trời chiều thì hai câu thơ tiếp theo của bài thơ tác giả giới thiệu cảnh buổi tối nơi xóm núi. Và nếu như cảnh trời chiều có cái gì đó man mác buồn thì cảnh buổi tối nơi xóm núi lại toát ra những hình ảnh gợi vui, tác giả viết:

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng”.

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng”

Cảnh xóm núi bắt đầu bằng hình ảnh cô em trong trạng thái lao động đó là xay ngô. Câu thơ này trong nguyên bản là “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc” không có chữ chỉ sự tối nhưng  người đọc vẫn hình dung ra được buổi tối nhờ lò than rực hồng ở câu thơ sau.  Cả không gian núi rừng xóm núi lúc chiều tối chỉ xuất hiện hình ảnh cô em thiếu nữ vùng sơn nước. Cô em “thiếu nữ” đã là gợi lên sự trẻ trung tươi vui đã thế cô em lại trong trạng thái xay ngô là một trạng thái lao động khoẻ khoắn, bản thân trạng thái đó đã gợi lên một sự chủ động trong lao động gợi lên một hình ảnh vui.

Trong sự vận động của cối xay ngô cũng là sự vận động của thời gian đi vào đêm thì không gian xóm núi lại rực hồng lên lò than trong đêm tối. Lò than đã là một sự ấm áp rồi mà lò than ở đây lại trong trạng thái rực hồng là sự nồng ấm, là sự ấm áp, là sự toả sáng làm rực lên không gian xóm núi. Một cảnh tượng gợi lên sự ấm áp và vui tươi.

Hai câu thơ đầu với hai hình ảnh mang chủ thể là cánh chim mỏi, chòm mây cô độc gợi buồn thì hai câu thơ cuối này với hai hình ảnh mang tính chủ thể là cô em xay ngô và lò than rực hồng đã gợi lên một không gian ấm áp và vui tươi. Nguyễn Du viết “Người sầu cảnh cũng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” không gian xóm núi vui thì cũng chứng tỏ người bị giải đi đang có tâm trạng vui trước khung cảnh xóm núi, trước cảnh sống của con người xung quanh.

3. “Chiều tối” là bài thơ tứ tuyệt đặc sắc của Hồ Chí Minh. Bài thơ vừa mang phong cách đường thi cổ kính vừa mang tính tân hiện đại trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh. Bài thơ tả cảnh chiều tối ở vùng rừng núi nhưng lại toát lên hình tượng nhân vật trữ tình là tác giả Hồ Chí Minh có tấm lòng yêu thương rộng lớn, luôn nâng niu trân trọng mọi sự sống trên đời, có tâm hồn lạc quan cách mạng luôn hướng về tương lai và ánh sáng.

Nguyễn Tuân.

Nêu đặc điểm về con người và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân.

1. Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là một tác gia lớn của nền văn học VIệt Nam hiện đại. Ông không những là một cây bút tìa hó mà còn là một con người có nhân cách lớn. Đọc văn chương của Nguyễn Tuân người ta vừa bắt gặp một con người có nhân cách sống đẹp và một tác gia văn học có sự nghiệp văn chương  độc đáo.

2.a. Nhà văn Nguyễn Tuân sinh năm 1910 mất năm 1987 tại Hà Nội. Trước cách mạng ông sống theo chủ nghĩa xuê dịch bất tuân quy tắc xã hội cũ. Sau cách mạng ông tích cực tham gia kháng chiến và viết văn. Nguyễn Tuân là một nhà văn có tính cách độc đáo.

Trước hết Nguyễn Tuân rất giàu lòng yêu nước và yêu nước có màu sắc riêng. Ông yêu nước là yêu tiếng mẹ đẻ, yêu văn chương dân tộc, yêu ca dao dân ca, yêu phong cảnh đẹp của quê hương đất nước, yêu thú chơi tao nhã, yêu văn hóa ẩm thực của dân tộc.

Nguyễn Tuân là một người có ý thức cá nhân cao luôn khẳng định tính cách độc đáo của mình.  Nguyễn Tuân không bao giờ chấp nhận cảnh sống tù túng ngưng đọng, đơn điệu tẻ nhạt mà luôn sống phóng túng thích xuê dịch để tìm cảm giác lạ.

Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Ông không chỉ viết văn mà còn là nghệ sĩ của các ngành nghệ thuật khác như sân khấu, điện ảnh. Và một cái tài hoa nữa của Nguyễn Tuân là ông dùng rất nhiều kiểu viết của các ngành nghệ thuật khác để sáng tạo văn chương. Nguyễn Tuân là một con người có cá tính nhân cách nên ông rất quý trọng nghề nghiệp của mình và lao động sáng tạo nghệ thuật một cách nghiêm túc.

b. Nguyễn Tuân bắt đầu cầm bút năm 1930 nhưng thành công và thành danh bắt đầu năm 1938. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân trải qua hai thời kỳ trước và sau cách mạng tháng Tám.

Thời kỳ trước cách mạng Nguyễn Tuân viết theo ba đề tài chính: Thứ nhất là về đề tài chủ nghĩa xuê dịch. Viết về đề tài này là viết về cái tôi lãng tử qua các miền quê, qua đó ca ngợi cảnh sắc quê hương đất nước và bày tỏ lòng yêu nước của mình. Tác phẩm chính của đề tài này là “Một chuyến đò”, “Thiếu quê hương”. Thứ hai là đề tìa về vẻ đẹp vang bóng một thời. Viết về đề tài này là ông đi tái hiện ca ngợi những vẻ đẹp đã một thời vang bóng, trong đó chủ yếu là vẻ đẹp của những nho sĩ cuối mùa. Tác phẩm chính của đề tài này là tập truyện “Vang bóng một thời”. Thứ ba là đề tài về đời sống truỵ lạc. Viết về đề tài này là ông ghi lại quãng đời hoang mang bế tắc của chính mình, cái thời mà cái tôi lãng tử của Nguyễn Tuân cũng như một số người cùng thời đã lao vào rượu và thuốc phiện, qua đó nói lên tâm trạng khủng hoảng của một lớp thanh niên đương thời. Tác phẩm chính của đề tài này là “Chiếc lư đồng mắt cua” “Ngọn đèn dầu lạc”.

Thời kỳ sau cách mạng, Nguyễn Tuân đã tích cực tham gia hoạt động kháng chiến, hoạt động văn hoá nghệ thuật. Văn chương của Nguyễn Tuân thời kỳ sau cách mạng thường tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, qua đó ca ngợi vẻ đẹp của con  người Việt Nam anh dũng và tài hoa trong hoạt động chiến đấu và lao động sản xuất. Tác phẩm chính của ông sau cách mạng là “Tình chiến dịch”, “Đường vui”, “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”, “Sông Đà”, “Ký Nguyễn Tuân”.

3. Nguyễn Tuân là một con người có nhân cách sống đẹp, là một nhà văn có phong cách văn chương độc đáo. Suốt trong hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân là ông luôn đi tìm ca ngợi đề cao cái đẹp của con người và văn hoá Việt Nam. Nguyễn Tuân đã đóng góp to lớn cho nền văn học dân tộc và đặc biệt là cho sự phát triển của tiếng việt.

 

“Đời thừa”- “Chí Phèo” của Nam Cao.

Phân tích bi kịch của người trí thức trong truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao.

1. Trong số những nhà văn xuất hiện nửa đầu thế kỷ XX thì Nam Cao (1915 – 1951) là một tên tuổi chói sáng. Hành trình sáng tác của Nam Cao trải qua hai thời kỳ trước và sau cách mạng tháng Tám nhưng sự nghiệp văn chương ấn tượng nhất là thời kỳ trước cách mạng. Thời kỳ trước cách mạng Nam Cao đã dồn hết tâm lực và bút lực của mình vào hai đề tài chính đó là người dân quê và người trí thức nghèo. Về đề tài người trí thức , ngoài thiểu thuyết “Sống mòn”  thì phải kể đến truyện ngắn “Đời thừa” 1943. Truyện ngắn “Đời thừa” tác giả tập trung phản ánh tấn bi kịch kép của người trí thức đó là bi kịch về sự vỡ mộng văn chương và bi kịch về sự sụp đổ đạo lí sống. Chuỗi bi kịch đau đời này của người trí thức được nhà văn Nam Cao thể hiện một cách sinh động qua nhân vật nhà văn Hộ, một nhân vật chính của tác phẩm.

2.a. Truyện ngắn “Đời thừa” phản ánh tấn bi kịch của người trí thức thông qua nhân vật nhà văn Hộ. Nhà văn Hộ rất có ý thức về nghề nghiệp của mình. Không những thế Hộ còn có khát vọng của một nhà văn chân chính. Nhưng sống trong xã hội chó đểu Họ đã không thể thực hiện được ước mơ khát vọng của mình.

Hộ là một nhà văn nên có bản chất gốc của nhà văn là “mê văn” hơn mọi “lạc thú vật chất” ở đời. Không chỉ mê văn mà Hộ còn có một “hoài bảo lớn” một giấc mộng đẹp về văn chương “đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác ra cùng thời”. Việc một nhà văn viết được một tác phẩm như thế, tác phẩm “sẽ ăn giải noel” không phải là một sự háo danh mà là một ước mơ chân  chính rất đáng trân trọng. Khát vọng này có cơ sở để thành hiện thực khi nhà văn Hộ có quan niệm viết đúng “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu tìm tòi,  khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”. Tiếc thay giấc mộng văn chương của Hộ bị cơm áo ghì sát đất làm cho sụp đổ mộng văn chương. Trước khi viết văn Hộ phải làm một con người chân chính. Hộ đã cúi xuống nỗi đau đỉnh điểm của Từ dang cánh tay nhân ái cứu vớt mẹ con Từ và cả gia đình Từ. Cũng từ đó Hộ vướng vào nỗi lo cơm áo “những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí ngốn một phần thời gian của hắn”. Hộ phải xoay lưng ra kiếm tiền, cách kiếm tiền duy nhất của Hộ là viết văn viết báo. Mà muốn có tiền nhanh thì phải viết vội vàng dễ dãi “quấy loãng một thứ văn chương bằng phẳng dễ dãi”. Từ đó những cuốn sách viết vội vàng được in ra, những bài báo nhạt nhẽo người ta quên ngay sau khi đọc. Hộ cảm thấy đau đớn khi phải sản xuất ra hàng giả. Hộ cảm thấy mình “bất lương đê tiện”. Hộ đã tự chà đạp lên khát vọng của mình, Hộ phản bội lại chính mình. Hộ đã thốt lên một cách đau đớn về sự nghiệp văn chương “Thôi thế là hết ta đã hỏng, ta đã hỏng đứt rồi”.

Nhà văn Hộ không chỉ có khát vọng lớn về văn chương mà còn có một quan niệm đúng trong sáng tạo nghệ thuật điều đó hứa hẹn một sự nghiệp văn chương chói sáng. Nhưng rồi “Cuộc đời cơ cực giơ nanh vuốt, cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu) Hộ đã đành bất lực trong việc thực hiện sự nghiệp của mình. Hộ đã rơi vào bi kịch vỡ mộng văn chương, bi kịch đời thừa trong văn chương.

b. Nhà văn Hộ không chỉ là một nhà văn chân chính mà còn là một con người chân chính. Hộ lụôn đề cao nguyên tắc sống có tình thương cả trong quan niệm và cả trong đời sống thực hành. Hộ đã từng quan niệm “kẻ mạnh không phải là kẻ dẫm lên vai người khác để thoả mãn lòng ích kỷ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ người khác trên đôi vai của mình”. Trong sáng tạo văn chương Hộ cũng quan niệm “văn chương phải ca tụng lòng thương, tình bác ái, lẽ công bình”. Trong đời sống thường ngày Hộ thực hành đúng những nguyên tắc đó, Hộ đã cuối xuống nâng cuộc đời từ trên đôi vai nhân ái của mình, Hộ yêu thương mẹ con từ hết mực. Khi Từ ốm “Hộ lo xanh mặt, thức suốt đêm để lo thuốc than cho vợ”. Đi xa về gặp con Hộ “cảm động đến ứa nước mắt”. Hộ đã hy sinh tất cả giấc mộng văn chương để chăm lo cho cái gia đình khốn khổ của mình, đó là một tình thương rất cao cả, rất đáng trân trọng.

Nhưng rồi cuộc sống gia đình ngày càng túng quẩn đã làm bẩn đục bầu tâm lí tình thương của Hộ. Bắt đầu là Hộ “trở nên cau có và gắt gõng” rồi đến những hành động doạ nạt vợ con “là tôi đuổi tất cả mấy mẹ con mình ra khỏi cái nhà này, mấy đứa kia đều đáng đánh vật một nhát cho chết cả, cả con mẹ nữa cũng đáng đánh vật một nhát cho chết cả”. Không dừng lại ở cau có gắt gõng, doạ nạt trừng trộ mà Hộ còn “đánh cả Từ đuổi Từ đi”. Như vậy cảnh sống túng quẩn đã đánh mất bản chất vốn có của Hộ, Hộ đã trở thành một người chồng vũ phu. Đến một lúc Hộ bắt gặp dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não” của Từ, Hộ đã bật khóc “nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh” và Hộ đã nhận ra Hộ đã đánh mất mình chà đạp lên nguyên tắc sống có tình thương của mình, một lần nữ Hộ lại thốt lên một cách đau đớn “anh…anh chỉ là một thằng khốn nạn”.

Cái bi kịch thứ nhất của Hộ tuy đau đớn nhưng còn có lí do để an ủi là đã hy sinh cho nguyên tắc sống có tình thương. Nhưng đến bi kịch thứ hai này, bi kịch tự chà đạp lên nguyên tắc sống có tình thương là bi kịch tự Hộ gây ra vì thế Hộ đau xót vô cùng. Một lần nữa Hộ đã rơi vào bi kịch đời thừa, sống kiếp đời thừa.

3. Qua chuỗi bi kịch đau đớn đau đời của nhân vật Hộ, nhà văn Nam Cao muốn gián tiếp nhắn gửi một điều “những người trí thức trong xã hội cũ họ luôn có khát vọng sống tốt đẹp, họ luôn tự ý thức phải vươn lên sống cho có ý nghĩa với cuộc đời, với xã hội nhưng lại phải rơi vào kiếp đời thừa”. Từ đó nhà văn muốn lên án một xã hội đã vô trách nhiệm với người trí thức để cho họ phải rơi vào cảnh sống “mòn đi móc lên mục ra rỉ ra không lối thoát” của kiếp sống đời thừa. Cũng qua diễn tả tấn bi kịch của nhân vật Hộ, nhà văn cho người đọc cảm nhận được cái tài nghệ trong việc diễn tả tâm lí ý thức của nhân vật. Nghệ thuật xây dựng tâm lí nhân vật là một nét thành công đặc sắc của truyện ngắn “Đời thừa”.

Đề: Phân tích tư tưởng nhân đạo của nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo.

1. Nam Cao (1915 – 1951) là một cây bút hiện thực xuất sắc trước cách mạng tháng Tám. Ở thời kỳ này ông tập trung viết về hai đề tài người nông dân và người trí thức nghèo nhưng nhiều nhất vẫn là đề tài người nông dân. Khác với một số nhà văn cùng thời khi phản ánh hiện thực này bằng một giọng văn đầy xúc cảm, còn Nam Cao thì rất lạnh lùng nhưng hơn ai hết tấm lòng nhân đạo của Nam Cao được thể hiện một cách sâu sắc trong từng trang văn của mình. Tác phẩm “Chí Phèo” 1941 là một tác phẩm diễn tả tấn bị kịch bị cự tuyệt quyền làm người của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Qua việc thể hiện tấn bi kịch này nhà văn đã đau nỗi đau với nhân vật, phát hiện và đề cao phẩm chất lương thiện của người lao động. Đồng thời lên án tố cáo bọn thống trị, bọn mặt người dạ thú đã làm bần cùng hóa và lưu manh hóa người lao động.

2. Nhà văn Nam Cao có nhiều đặc biệt so với các nhà văn khác là thường phát biểu quan điểm nghệ thuật của mình và khi sáng tác thường tuân theo quan điểm nghệ thuật đó. Một trong những quan điểm mà nhà văn thường nhắc tới đó là quan điểm nhân đạo trong sáng tác. Theo Nam Cao một tác phẩm có giá trị là một tác phẩm vừa diễn tả được nỗi đau và niềm vui “ca tụng lòng thương, tình bác ái, lẽ công bình nó làm cho con người gần người hơn”. Từ đó ta thấy ở con người Nam Cao luôn có sự thống nhất giữa quan điểm và hành động, giữa lời nói và việc làm. Tác phẩm của ông dù viết ở dạng nào, bằng lời văn gì thì đều ẩn chứa ở trong đó một tư tưởng nhân đạo, một tình cảm nhân đạo rất kín đáo và cũng rất sâu sắc. Truyện ngắn “Chí Phèo” là một minh chứng hùng hồn cho tấm lòng nhân đạo này của Nam Cao.

a. Trong tác phẩm “Chí Phèo” cái tôi chủ quan là tác giả ẩn kín trong một giọng văn hơi lạnh lùng nhưng nếu đọc kỹ chúng ta sẽ cảm nhận được nhà văn thông cảm rất sâu sắc đối với số phận của nhân vật. Nhà văn đau với nỗi đau của nhân vật nói riêng, của những người nông dân là nạn nhân của xã hội nói chung.

Nhân vật chính trong tác phẩm là Chí Phèo, Chí Phèo vốn là một người nông dân lương thiện nhưng sống trong xã hội cũ đầy rẫy những bất công Chí Phèo đã rơi vào con đường rượt dốc nhân tính, Chí Phèo đã bị Bá Kiến và nhà tù thực dân biến thành lưu manh rồi trở thành quỷ dữ mất hết nhân tính. Diễn tả quá trình này ta thấy tác giả rất thương với nhân vật của mình. Không chỉ thương cảm cho nhân vật chính của mình là Chí Phèo bị hủy hoại nhân tính mà còn thương cảm đối với đại bộ phận người nông dân là nạn nhân của Chí Phèo cũng là nạn nhân của bọn phong kiến bọn thống trị. Khi tác giả viết “nó phá biết bao cơ nghiệp, đạp đổ bao nhiêu cảnh yên vui, làm đổ nát biết bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người lương thiện” là chính tác giả đã đau nỗi đau của mọi người. Chí Phèo ở đây vừa là thủ phạm nhưng cũng chính là nạn nhân của giai cấp thống trị.

b. Sự thể hiện nhân đạo sâu sắc nhất của nhà văn Nam Cao trong tác phẩm này chính là ở chỗ đã phát hiện đề cao, trân trọng phẩm chất lương thiện của người lao động, những mảnh sáng ẩn giấu trong đáy sâu tâm hồn của những con người đã bị tha hóa.

Khi xây dựng nhân vật của mình nhà văn đã bằng nhiều cách để đề cao phẩm chất của người nông dân đó là người lương thiện. Nhân vật Chí Phèo ngay từ đầu truyện nhà văn đã khẳng định đó là một con người lương thiện thứ  thiệt. Hắn biết đi ở để làm ăn, hắn biết nhục biết tự trọng khi bà ba Bá Kiến bắt hắn làm điều không hay “hắn thấy nhục hơn là thích”. Trong quá trình bị tha hóa chính Bá Kiến và Thị Nở cũng đều khẳng định hắn là một con người “hiền như đất”. Tác giả đã để cho một tên là kẻ thù Bá Kiến và một người là ân nhân Thị Nở đánh giá nhìn nhận Chí Phèo. Đó là nhằm thể hiện những sự nhận định khách quan về bản chất Chí Phèo, bản chất của người nông dân chứ không phải là nhận định chủ quan của tác giả. Sâu xa hơn nữa tác giả đã phát hiện và đề cao phẩm chất lương thiện đã chìm sâu trong đáy lòng trong tâm hồn của một Chí Phèo tưởng đã mất hết nhân tính. Chí Phèo khi gặp Thị Nở với chất xúc tác và bàn tay người đàn bà và bát cháo hành, Chí Phèo đã bừng tỉnh và điều đầu tiên Chí Phèo nghĩ đó là quá khứ lương thiện của mình “có một gia đình nho nhỏ chồng cuốc mướn cay thuê, vợ dệt vải có tiền mua dăm ba sào ruộng làm ăn” và Chí Phèo khát khao chung sống với Thị Nở, hắn muốn “làm hòa với mọi người”.

c. Càng thông cảm với nhân vật với bao nhiêu nhà văn càng lên án gay gắt những thủ đoạn bóc lột, những thủ đoạn làm nhục người nông dân của bọn thống trị bấy nhiêu. Nhà văn đã vạch trần những thủ đoạn xảo quyệt thâm hiểm của Bá Kiến đối với người nông dân, phương châm xử thế của Bá Kiến như những cạm bẫy mà người nông dân không thoát ra được. Bá Kiến từng đúc kết “mềm nắn rắn buông”, “nắm thằng có tóc chứ ai nắm thằng trọc đầu”, “dùng những thằng đầu bò trị thằng đầu bò”. Bên cạnh Bá Kiến là Lí Cường, Đội Tảo là bọn người tàn bạo tuy không nói trực tiếp nhưng khi nhắc đến nhà tù thực dân là nhà văn đã gián tiếp vạch trần nhà tù vô nhân đạo của bọn thực dân.

d. Cái tình cảm nhân đạo mà nhà văn Nam Cao muốn tập trung thể hiện ở tác phẩm này chính là đặt ra một vấn đề nhức nhối cho xã hội rằng có một bộ phận người nông dân đang bị lưu manh hóa hãy cứu lấy họ, đó là tiếng kêu khẩn thiết của tác giả vì người nông dân. Ai đó đã nói “tình thương có hai bàn tay một bàn tay vỗ về nỗi đau, một bàn tay xóa đi nguồn gốc nỗi đau đó”. Cái nhân đạo của Nam Cao là chỉ ra nguồn gốc nỗi đau của người dân quê, đó chính là tư tưởng của nhà văn Nam Cao.

3. Qua tác phẩm “Chí Phèo” nhà văn Nam Cao đã phanh phui cái mâu thuẫn xã hội, từ đó mà cất lên một tiếng kêu khẩn thiết cho người dân quê.

Đề:Phân tích mối quan hệ giữa Chí Phèo với Bá Kiến, Chí Phèo với Thị Nở để làm rõ ý nghĩa xã hội toát ra từ hai mối quan hệ này.

1. Nam Cao là một tác gia lớn, hành trình sáng tác của ông trải qua hai thời kì trước và sau cách mạng nhưng rực rỡ nhất là thời kì trước cách mạng. Ở thời kì trước cách mạng tấm lòng và ngòi bút của Nam Cao luôn hướng về thế giới nông thôn nông dân, ở đó mâu thuẫn giai cấp đến độ căng nhất không thể dung hòa. Trong mối quan hệ với giai cấp thống trị, người nông dân vừa bị bần cùng hóa vừa bị lưu manh hóa. Tác phẩm “Chí Phèo” 1941 là một minh chứng về mối quan hệ giữa giai cấp thống trị với người nông dân. Trong tác phẩm này nhà văn đã nêu lên hai mối quan hệ giữa Chí Phèo với Bá Kiến, Chí Phèo với Thị Nở tuy khác nhau về hình thức nhưng nhằm đi đến khẳng định một điều, trong vòng quay của cỗ máy bóc lột và định kiến xã hội người nông dân bị biến thành phế thải.

2.a. Thế giới nông dân trước cách mạng như Nam Cao nói là thế giới “quần ngư tranh thực”. Người nông dân vừa là con mồi ngon vừa là phương tiện bắt mồi của giai cấp thống trị. Người nông dân Chí Phèo trong tác phẩm trong quan hệ với Bá Kiến là quan hệ cá lớn nuốt cá bé.

Khi Chí Phèo còn trẻ làm canh điền cho ông Lí Kiến sau này là Bá Kiến với mối quan hệ chủ tớ nhưng Chí Phèo cũng không được yên phận làm tôi tớ. Chỉ vì ghen tuông bóng gió mà Bá Kiến đã ngấm ngầm đẩy Chí Phèo vào tù, nhà tù thực dân đã hợp lực với Bá Kiến biến người nông dân lương thiện Chí Phèo thành người lưu manh. Khi đã trở thành kẻ lưu manh Chí Phèo lại bị Bá Kiến lợi dụng làm kẻ tay sai. Vẫn là mối quan hệ chủ tớ, Chí Phèo bị Bá Kiến biến thành kẻ lưu manh quỷ dữ. Trong tác phẩm ngoài phản ánh mối quan hệ ở hai thời kì, tác phẩm còn cụ thể hóa mối quan hệ đó bằng ba lần Chí Phèo đến gặp trực tiếp Bá Kiến. Lần thứ nhất sau khi ở tù về với lòng căm thù nóng hổi Chí Phèo xách vỏ chai đến nhà Bá Kiến để gieo vạ đòi nợ nhưng bị cái ngọt nhạt của Bá Kiến làm tắt đi ngọn lửa đấu tranh của Chí Phèo. Lần thứ hai Chí Phèo xách dao đến nhà Bá Kiến để xin đi ở tù cũng là một cách ra yêu sách với Bá Kiến nhưng Bá Kiến đã khôn khéo biến hắn thành kẻ đâm thuê chém mướn. Lần thứ ba Chí Phèo xách dao đến nhà Bá Kiến để đòi lương thiện hắn cố tỉnh táo để không bị lừa lẫn nữa nhưng đã muộn. Bế tắc cùng đường hắn đã tự kết liễu đời mình trên vũng máu tươi. Nhu vậy cả ba lần Chí Phèo đến nhà Bá Kiến thì cả ba lần Chí Phèo đều bị thất bại thảm hại.

Dù là phản ánh trực tiếp hay gián tiếp về mối quan hệ giữa Chí Phèo với Bá Kiến thì Nam Cao cũng đều chỉ ra rằng người nông dân Chí Phèo trong quan hệ với giai cấp thống trị mà đại diện là Bá Kiến thì luôn thất bại thảm hại. Chí Phèo đã bị  biến dạng cả nhân hình lẫn nhân tính, đã trở thành kẻ lưu manh quỷ dữ mất hết nhân tính.

b. Khác với mối quan hệ giữa Chí Phèo và Bá Kiến là quan hệ giữa kẻ thống trị và bị trị, quan hệ giữa Chí Phèo và Thị Nở là quan hệ giữa người cùng hội cùng thuyền. Trong mối quan hệ này Chí Phèo vừa được phục sinh linh hồn nhờ tấm lòng nhân ái của Thị Nở nhưng cũng vừa bị đẩy đến bế tắc cùng đường vì định kiến xã hội.

Thị Nở xuất hiện khi Chí Phèo ở trạng thái quỷ dữ mất hết nhân tính. Nhưng với tình yêu và bát cháo hành làm chất xúc tát nó như một phép thử, Chí Phèo đã được phục sinh nhân tính, đã được phục sinh linh hồn. Chí Phèo đã thèm khát lương thiện thèm khát hạnh phúc, Thị Nở đã trở thành ân nhân của Chí Phèo.

Nhưng rất đáng tiếc trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời, Chí Phèo bị định kiến xã hội chặn lại. Bà cô Thị Nở không chấp nhận cho Thị Nở lấy một kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ. Bà cô không chấp nhận cũng có nghĩa là làng Vũ Đại không chấp nhận, xã hội không chấp nhận. Định kiến tàn ác đó đã buộc Thị Nở dứt tình với Chí Phèo. Chí Phèo đã rơi vào bế tắc không lối thoát.

Người nông dân Chí Phèo không chỉ chịu nỗi đau đời do bọn phong kiến mà đại diện là Bá Kiến gây nên mà còn chịu nỗi đau đời do định kiến tàn ác khắc khe của xã hội. Với hai thế lực này người nông dân Chí Phèo đã rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

3. Nhắc đến Chí phèo là người ta nghĩ ngay đến Bá Kiến, cũng như nhắc đến Chí Phèo người ta nghĩ ngay đến Thị Nở. Xây dựng mối quan hệ đối lập đối tuyến giữa Chí Phèo với Bá Kiến, Chí Phèo với Thị Nở nhà văn Nam Cao nhằm làm rõ mối xung đột giai cấp ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Ở đó người nông dân vừa là nạn nhân của những thủ đoạn bóc lột nham hiểm tàn bạo vừa là nạn nhân của những định kiến xã hội khắc khe.

Đề: Phân tích nhân vật Chí Phèo để làm rõ tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của một bộ phận người nông dân trước cách mạng.

1. Trên văn đàn Việt Nam nửa đầu thế  kỉ XX Nam Cao là một cây bút hiện thực xuất sắc. Quãng đời sáng tác của Nam Cao không dài nhưng ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương phong phú có giá trị. Truyện ngắn “Chí Phèo” 1941 là một kiệt tác của nhà văn Nam Cao. Truyện ngắn xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo, một điển hình cho người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo cũng là bi kịch của một bộ phận người nông dân trước cách mạng.

2.a. Chí Phèo vốn là một nông dân lương thiện. Khí còn nhỏ Chí Phèo sống với bà góa mù, bác phó cối Chí Phèo ít nhiều ảnh hưởng tính cách của người lương thiện. Chí Phèo “run run” từ chối việc làm không hay khi bà ba Bá Kiến yêu cầu chứng tỏ Chí Phèo có lòng tự trọng đó là bản chất của người lương thiện. Khi gặp Thị Nở, Chí Phèo hồi tỉnh nghĩ về ước mơ thời quá khứ “có một gia đình nho nhỏ chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, có tiền mua dăm ba sào ruộng làm ăn”. Qua ước mơ này chứng tỏ tuổi trẻ Chí Phèo là một người nông dân lương thiện thứ thiệt. Chính Bá Kiến, kẻ thù của hắn và Thị Nở, ân nhân của hắn cũng đều khẳng định hắn “hiền như đất”. Qua đó ta thấy Chí Phèo vốn là một người nông dân lương thiện hay nói cách khác là một người nông dân đẹp, hứa hẹn một cuộc đời hạnh phúc nếu sống trong một xã hội bằng phẳng.

b. Nhưng sống trong xã hội mà Vũ Trọng Phụng gọi là xã hội “chó đểu”, Ngô Tất Tố gọi là xã hội “người ăn thị người ngọt xớt”, còn Nam Cao gọi là xã hội “quần ngư tranh thực” nên Chí Phèo đã trở thành nạn nhân của xã hội đó. Chí Phèo đã bị Bá Kiến và nhà tù thực dân biến thành lưu manh. Khi đi ở tù về Chí Phèo đã bị biến đổi về ngoại hình “cái đàu cạo trọc lóc, răng cạo trắng hớn đôi mắt đen đen cơng cơng.” Và cũng sau khi ở tù về nhân cách Chí Phèo cũng thay đổi, thích cà khịa, thích đập phá, gieo vạ, gây sự với người bán rượu, với Bá Kiến.

Sau khi bị biến thành lưu manh, Bá Kiến tiếp tục sử dụng làm tay sai nên Chí Phèo đã trượt dốc nhân tính thảm hại. Về ngoại hình “trông mặt hắn giống mặt một con vật lạ”. Về nội tâm tính cách thì mất hết nhân tính trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Sống trong xã hội vạn ác đó, Chí Phèo từ một người lương thiện đã bị biến thành lưu manh quỷ dữ mất hết nhân tính sống như bản năng cây cỏ.

c. Khi đã trở thành con quỷ dữ mất hết nhân tính, Chí Phèo bỗng gặp Thị Nở một người nông dân có số phận bất hạnh. Bát cháo hành hòa trộn với tình yêu của Thị Nở đã làm cho con thú Chí Phèo bừng tỉnh rồi hồi tỉnh rồi khát khao lương thiện, khát khao hạnh phúc. Chí Phèo muốn làn hòa với mọi người, hắn thèm lương thiện, rồi cao hơn là hắn muốn sống chung với Thị Nở, lời tỏ tình của hắn “giá mà ở mãi thế này thì thích nhỉ”, “hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui”, đó là lời thỉnh cầu hạnh phúc, đó là lời ước ao có một gia đình nho nhỏ. Nhưng bà cô Thị Nở không chấp nhận mới tình đó cũng có nghĩa là định kiến xã hội không chấp nhận một con người như Chí Phèo “chuyên rạch mặt ăn vạ” lại đi lấy Thị Nở lại trở về làm người. Thị Nở xô ngã Chí Phèo cũng là dứt tình với Chí Phèo cũng có nghĩa là Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người.

3. Thông qua tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo, tác giả muốn nêu lên tấn bi kịch của một bộ phận người nông dân trước cách mạng mà Chí Phèo là điển hình. Nói cách khác thông qua nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao muốn đặt ra một vấn đề nhức nhối của xã hội là bộ phận người nông dân đang bị lưu manh hóa hãy cứu lấy họ.

Đề: Tóm tắt tác phẩm Chí Phèo và nêu tóm lược nội dung tác phẩm.

a. Mở đầu tác phẩm Chí Phèo xuất hiện với tư cách của một con người bị xa hội không tiếp nhận vì thế hắn đối lập với xã hội, hắn chửi từ trời đến đất đến làng Vũ Đại, đến những người không chửi nhau với hắn và kể cả người đẻ ra hắn. Như vậy hắn muốn giao tiếp với xã hội những xã hội không ai ra điều.

Tiếp đến tác giả lược thuật về cuộc đời Chí Phèo. Chí Phèo xuất thân là một đứa con hoang tầng lớp dưới đáy cùng của xã hội. Hắn sống với những người nông dân lương thiện như bà góa mù, bác phó cối nên hắn ảnh hưởng tính cách lương thiện. Thời tuổi trẻ hắn là một người nông dân lương thiện nhưng do sự ghen tuông bóng gió, Lí Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù.

Sau bảy, tám năm ở tù hắn trở về làng, khi trở về hắn thay đổi cả nhân hình lẫn nhân tính. Bộ mặt thì xấu xí méo mó quái dị, nội tâm thì thích chửi bới gieo vạ cà khịa. Bá Kiến lợi dụng Chí Phèo làm một kẻ đầu bò để trị những kẻ đầu bò nên Chí Phèo đã trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến, thực hiện mưu đồ gieo vạ bóc lột của Bá Kiến. Từ một con người lương thiện Chí đã trở thành một con vật lạ, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại, của xã hội. Trên bước đường trượt dốc nhân cách không có điểm dừng bỗng Chí Phèo gặp Thị Nở. Hắn được Thị Nở chăm sóc bằng bàn tay của người đàn bà và bát cháo hành nhớ đời, Chí Phèo đã tỉnh ngộ về ý thức làm người. Chí Phèo khát khao chung sống với Thị Nở cũng là khát khao có một gia đình lương thiện hạnh phúc nhưng cánh cửa trở về với cuộc đời làm người của hắn lại một lần nữa bị đóng chặt. Bà cô Thị Nở không chấp nhận hắn lấy Thị Nở vì tội chuyên rạch mặt ăn vạ. Sự từ chối của bà cô cũng chính là sự từ chối của xã hội, xã hội không chấp nhận một người như hắn trở về làm người.

Trong cơn tuyệt vọng hắn đã xách dao đi giết thủ phạm đã đẩy hắn ra khỏi cuộc đời đó là Bá Kiến và trong cơn bế tắc Chí Phèo đã tự kết liễu đời mình. Đó là hướng giải thoát tiêu cực nhưng không thể khác được. Khi Chí Phèo chết đi Thị Nở đã nhìn nhanh xuống bụng mình và nhìn ra cái lò gạch bỏ không xa xa vắng người qua lại. Kết thúc này hé mở ra một điều, những  cuộc đời như Chí Phèo vẫn còn tiếp diễn trong cái xã hội “chó đểu” thời bấy giờ.

b. Truyện ngắn Chí Phèo phản ánh về nỗi khổ nỗi đau đớn của người nông dân trước cách mạng. Nếu như nững tác phẩm cùng thời như “Tắt đèn”, “Bước đường cùng” phản ánh quá trình bần cùng hóa của người lao động thì  tác phẩm “Chí Phèo” phản ánh quá trình lưu manh hóa của người nông dân. Phản ánh quá trình lưu manh hóa ông qua tấn bi kịch của nhân vật chính đó là Chí Phèo. Chí Phèo là một điển hình của người nông dântruớc cách mạng bị xã hội phong kiến thực dân làm tha hóa, bị dồn đẩy vào một tấn bi kịch bị cướp quyền làm người. Với nội dung hiện thực phong phú sâu sắc, đặc biệt vạch ra mối mâu thuẫn gay gắt ở nông thôn đương thời và tình trạng tha hóa phổ biến trong xã hội vô nhân đạo đó, với tư tưởng nhân đạo mới mẻ đầy lòng tin vào con người và trình độ nghệ thuật bậc thầy.

 

Giải thích và bình luận câu nói sau “Rễ của việc học thì đắng, quả của việc học thì ngọt” (Ngạn ngữ Nga).

Giải thích và bình luận câu nói sau “Rễ của việc học thì đắng, quả của việc học thì ngọt” (Ngạn ngữ Nga).

1. Trong cuộc đời mỗi con người hầu như ai cũng trải qua việc học, học ở trường học ở đời. Việc học là rất khó khăn đối với mọi người nhưng khi đã thành công trong việc học thì rất dễ dàng thành công trong mọi công việc. Vì thế người Nga đã có cách nói rất hình ảnh và cũng rất đúng về mối quan hệ nhân quả của việc học. “Rễ của việc học thì đắng, quả của việc học thì ngọt” (Ngạn ngữ Nga).

2.a. Câu nói của người Nga đề cập đến việc học và kết quả của việc học. Đề cập đến vấn đề này người ta đã đưa ra một hình ảnh rất ví von rất dễ hiểu đó là việc học là như công việc của rễ cây, còn kết quả của việc học như quả của cây. Rễ đắng quả ngọt ở đây được hiểu theo nghĩa bóng. Đắng có nghĩa là gian khổ, ngọt có nghĩa là thành công.

Câu nói gồm hai vế, vế thứ nhất là “rễ của việc học thì đắng”. Vế này được hiểu là cái bộ rễ của cây là bộ phận quan trọng để nuôi cây sinh quả. Rễ của cây thì phải xiên vào lòng đất có khi là đất cằn sỏi đá,  có khi phải hiểu hạn hán bão lụt để chắc chiêu dưỡng chất nuôi cây. Đó là một quá trình rất “đắng” tức là rất “gian khổ” của cây. Việc học của mỗi người cũng tương tự như công việc của rễ cây. Phải cần mẫn, phải chịu nhiều gian khổ để chắt lọc những kiến thức của sách vở của đời sống để nuôi dưỡng cái giá trị tinh thần cho mỗi người.

Nhưng kết quả của rễ đắng là “quả của việc học thì ngọt”. Quá trình cần mẫn của rễ cây thì kết quả là sinh thành và nuôi dưỡng quả ngọt. Đó là quy luật muôn đời của tự nhiên. Cũng tương tự với rễ cây và quả cây là việc học là kết quả của việc học. Nếu nhhư rễ cây đắng thì của việc học là gian khổ nhưng kết quả của việc học là sự thnàh công giống như kết quả của rễ cây là quả ngọt. Đây là mối quan hệ nhân quả của việc học. Khi người ta trả giá cho việc học bao nhiêu thì kết quả của việc học sẽ tốt đẹp bây nhiêu. Quan hệ nhân quả này cũng có một cách ví von khác đó là giống như leo núi và khi leo lên đến đỉnh núi. Khi leo núi thì rất gian khổ nhưng khi lên đến đỉnh núi rồi thì “thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Nghĩa là nhìn cái gì cũng sáng tỏ, làm cái gì cũng dễ dàng.

b. Câu ngạn ngữ của người Nga nói về việc học rất đúng với thực tế cuộc sống. Không những đúng với trước đây, hiện nay mà nó trở thành chân lí của muôn đời. Bởi vì bất cứ ai gặt hái được thành công trên cuộc đời này thì thường đó là kết quả của một quá trình kiên trì học tập cả trong nhà trường và trong cuộc sống.

câu nói đề cập đến việc học và kết quả của việc học, nghĩa là nếu một người trả giá cho việc học bằng sự vượt lên gian khổ thì người đó sẽ thành công. Suy rộng ra tromg cuộc sống muốn thành công trong học tập và trong lao động thì đều phải trả giá bằng mồ hôi và nước mắt.

3. Xưa nay việc học có rất nhiều quan điểm ý kiến nhưng có lẽ câu nói của người Nga là một ý kiến dễ hiểu nhất và cũng là đúng đắn nhất về việc học và kết quả của việc học. Tìm hiểu câu nói này ta càng nhận thức sâu sắc hơn về việc học của chúng ta. Sự thành công của việc học trong tương lai là phụ thuộc vào sự chịu đựng gian khổ, sự kiên trì học tập của chúng ta hôm nay. Cảm ơn câu nói của người Nga đã cho ta thêm sáng mắt sáng lòng.

“Tràng giang”.-Huy Cận

Nêu tóm lược về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Huy Cận, hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Tràng giang”.

1. Nhà thơ Huy Cận không chỉ là một đại biểu xuất sắc của phong trào thơ mới mà ông còn là một nhà thơ lớn của nền thơ ca Việt Nam hiện đại.

2.a. Huy Cận tên khai sinh là Cù Huy Cận. Ông sinh năm 1919 trong một gia đình nhà nho gốc nông dân tại Hà Tĩnh. Hồi nhỏ ông học ở quê sau đó vào Huế học trung học, tiếp đến là ra Hà Nội học trường cao đẳng canh nông. Từ 1942 ông tham gia phong trào sinh viên và mặt trận Việt Minh. Tháng 8 – 1945 ông dự hội nghị quốc dân tại Tân Trào và được bầu vào uỷ ban cứu quốc, sau đó là chíng phủ cách mạng lâm thời. Sau cách mạng tháng 8 – 1945 ông được cử giữ các chức vụ bộ trưởng, thứ trưởng của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau này là cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1984 ông giữ chức vụ uỷ ban trung ương liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam. Năm 1996 ông được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

b. Trước cách mạng tập thơ tiêu biểu của ông là tập “Lửa thiêng” 1940. Tập thơ thể hiện một nỗi buồn mênh mang, da diết mà Hoài Thanh gọi là một “Hồn thơ ảo não”. Ngoài ra ông còn có tập thơ “Vũ trụ ca” và tập văn xuôi “Triết lí kinh cầu tự”. Sau cách mạng tháng Tám thơ ông thể hiện niềm vui và niềm tự hào trước cuộc sống mới, đất trời mới. Các tập thơ tiêu biểu gồm “Trời mỗi ngày lại sáng” 1958, “Đất nở hoa” 1960,  “Bài thơ cuộc đời” 1963, “Chiến trường gần đến chiến trường xa” 1973, “Ngày hằng sống ngày hằng thơ” 1975, “Ngôi nhà giữa nắng” 1978, “Và hạt lại gieo” 1984.

c. Bài thơ được ra dời vào tháng 9 – 1939, bài thơ được viết trong khung cảnh của một buổi chiều khi nhà thơ đứng trên bờ đê sông Hồng nhìn thấy cảnh sông dài trời rộng và từ đó một tâm hồn đang ảo não buồn đã làm cho cảnh sông nước mang dáng vẻ buồn. Bài thơ ra đời trong một khung cảnh và một tâm trạng như thế.

“Hai đứa trẻ”.-Thạch Lam

Thế giới nội tâm của cái tôi thời đại được nhà văn Thạch Lam gửi gắm qua “Hai đứa trẻ”. Tác giả đã miêu tả nội tâm ấy như thế nào? Phân tích để chứng minh.

1. Sống trong bầu khí quyển của văn học 1930 – 1945 Thạch Lam đã tìm cho mình một phong cách mới. Ông viết một kiểu truyện ngắn không có xung đột ở cốt truyện. Truyện mà cứ như một bài thơ trữ tình bởi nó bộc lộ một cách sâu kín trạng thái tâm hồn mênh mông bí ẩn của cái tôi thời đại. “Hai đứa trẻ” là một trong những tác phẩm kiểu ấy. Nó gợi lên một cái gì đó xa xôi trong quá khứ và một cái ì đó mơ hồ chưa hề thấy trong tương lai.

2. Toàn bộ khúc ca trữ tình trong “Hai đứa trẻ” được tác giả dồn nén qua tiếng lòng của chị em Liên và gián tiếp thể hiện qua sự sống của ngoại cảnh.

a. Thế giới cuộc sống trong “Hai đứa trẻ” mở ra từ một buổi chiều buông xuống. Tác giả chọn đúng cái thời khắc dễ làm cho tâm hồn con người xao động. Đó là cái giờ khắc của ngày tàn, một chút gì đó mơ hồ của quá khứ trong sự nuối tiếc và một chút gì đó của tương lai trong nỗi âu lo khắc khoải.

Một buổi chiều êm như ru, đó là cái âm thanh của thời gian chầm chậm trôi đi. Tiếng gọi của thời gian làm cho lòng người khắc khoải đến mỏi mòn. Nó gợi lên sự chờ đợi nhớ nhung một cái gì đó cùng với âm thanh của tiếng trống thu. Không! Ấy là tiếng của ếch nhái từ đồng xa theo gió nhẹ thổi vào. Thì ra tiếng gọi của đồng quê đưa con người ngược dòng trở về với quá khứ. Cái quá khứ thật xa xôi, nó gợi lên một chút hoài niệm của Tú Xương đầu thế kỷ xx “Văng vẳng tiếng ếch bên tai, giật mình còn tưởng ai gọi đò về”.

Cuộc sống nơi phố huyện nghèo hiện ra cái nham nhở của nó “nửa quê nửa chợ”. Một sự nuối tiếc lo âu nó dồn nén trong tâm lí con người thời đại mà Thạch Lam đã gửi hết vào tâm hồn của chị em Liên. Ta cứ tưởng như chị em Liên đang ngồi trong gian hàng đó mà đếm từng bước đêm xuống. Trước mắt chúng hiện ra ánh sáng nhưng là thứ ánh sáng của giờ khắc ngày tàn, phương đông đỏ rực như hòn than rồi tắt dần. Hình hài luỹ tre xanh khắc lên nền hoàng hôn những hình thù kỳ dị, không còn cánh chim vào nền hoàng hôn, tín hiệu của sự sống như ngàn năm trước mà lập biểu tượng của sứống nham nhở, gây nên nỗi đau vô vọng cho những kiếp người nhỏ bé.

Xây dựng bức tranh thiên nhiên ấy Thạch Lam đã tái hiện một cách chân thực cuộc sống của con người Việt Nam trong buổi giao thời: nửa cũ, nửa mới,  nửa sáng, nửa thực, nửa hư. Đứng trong ranh giới ấy con người không biết về đâu, sống lê thê mòn mỏi suốt ngày này sang ngày khác.

b. Sự ám ảnh của thời gian đã giết chết dần những tâm hồn ngây thơ trong trẻo. Bóng tối còn tràn tới nơi phố huyện nghèo. Mắt Liên ngập đầy bóng tối, trong bóng tối sâu thẳm ấy là những mảnh đời tàn tạ hiện ra.

Trước tiên là những đứa trẻ “lom khom nhặt nhạnh những thanh tre thanh nứa còn sót lại trên nền chợ”. Cuộc sống đã li tán mỗi người một ngã, cứ như cảm nhận của Huy Cận trong “Tràng giang” “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” có điều là không phải cái dư âm trong cõi mơ màng mà hiện rõ nét những cảnh đời đau khổ. Nhìn thấy những đứa trẻ ấy, chị em Liên cảm thấy lòng buồn vô hạn, xót xa cho số phận của chúng cũng như thương cho chính mình. Cảm xúc đồng thân phận ấy chính là trái tim nhân đạo của Thạch Lam khi liên tưởng về thời thơ ấu.

Hình ảnh chị Tý với đôi chiếu chõng tre và thằng con xách điếu đóm đi sau lễ mễ dọn hàng. Bác Xiêu với gánh phở từ trong ngõ hun hút đi ra. Bà cụ Thi hơi điên. Vợ chồng bác Xẩm với manh chiếu rách và cái thau sắt tồi tàn đã làm hiện lên một cảnh chợ đêm. Những cảnh chợ ấy không phải là nơi tụ tập đông vui mà thật buồn chán và tẻ nhạt, họ ngồi ở cái góc phố mòn mỏi đợi chờ. Điều đáng nói là những con người ấy tồn tại như một linh hồn vất vưỡng trong đêm tối. Kiếp người mà như kiếp ma, họ tìm kế sinh nhai trong đêm tối, trong đêm tàn lặng lẽ, cảnh sống ầy làm cho ta liên tưởng đến cái cò trong ca dao “Cái cò mà đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”.

Thạch Lam đã tạo hình cho một thế giới cực kỳ ấn tượng bằng nghệ thuật phối âm phối màu đặc sắc. Vẫn cái âm thanh của tiếng ếch nhái ngoài đồng xa theo gió nhẹ thổi vào, thêm vào đó là tiếng muỗi vo ve, tiếng lá vàng khẽ rụng, tiếng cười khanh khách rờn rợn và tiếng đàn bầu run bần bật. Chị em Liên ngồi đó mà lắng nghe mọi âm thanh, nó như nhỏ giọt trong lòng. Hai chị em không buồn dọn hàng, chúng cảm thấy mệt mỏi trong cái cảnh tàn hấp hối. Có thể nói đây là thứ âm thanh não nùng thê lương tưởng chừng như tống tiễn một kiếp người.

Cùng với thế giới âm thanh ấy là màu sắc của cuộc sống nủa sáng nửa tối. Bóng tối làm cho thế giới nơi phố huyện nghèo cái gì cũng màu đen, những mô đất, những con người thăm thẳm, cả những hộp thuốc bên cạnh chị em Liên cũng màu đen. Cuộc sống thật u ám nặng nề vây kín số phận con người. Cái không gian nơi phố huyện nghèo cũng như túp lều tồi tàn rách nát của chị em Liên như cái ao đời tù đọng. Đúng hơn là một thứ nhà tù không lối thoát. Nhưng ám ảnh hơn cả vẫn là ánh sáng, cái thứ ánh sáng huyền hoặc ảm đạm đến thê lương. Đó là những ngọn đèn huê kỳ thắp sáng xa xa như ánh lửa ma trôi, cái liên tưởng ấy làm cho phố huyện nghèo cứ như cái nghĩa địa tồi tàn hoang vắng. Đặc biệt Là những ngọn đèn dầu, những đóm lủa trong cảnh chợ đêm. Ngọn đèn của chị Tý làm cho không gian xung quanh chập chờn lay động, ánh lửa cảu bác Xiêu làm cho bóng bác mênh mông toả xuống một vùng. Tác giả lặp đi lặp lại đến 7 lần những ngọn đèn ấy, chuyển nghĩa thực sang nghĩa biểu tượng. Trong thế giới tâm linh của người Việt đó là phần tâm hồn, nhưng trong cái miêu tả của Thạch Lam là những linh hồn sống dở chết dở.

Miêu tả thế giới âm thanh màu sắc đầy ám ảnh ấy, Thạch Lam đã ném cho cuộc đời này một cái nhìn thật ảm đạm buồn thương. Cuộc sống của con người thật vô nghĩa không biết tương lai ánh sáng là gì, không có những giọt nước mắt. Nhưng trong tim của Thạch Lam là một nỗi đau đời, một sự hận tủi. Đó cũng là cái bế tắc của cái tôi giữa buổi giao thời.

c. Có một khát vọng loé lên trong tâm hồn của chị em Liên cũng như của những con người nơi phố huyện. Những khát vọng ấy thật mong manh, con đường dến tương lai thật xa thẳm mịt mờ. Có một chút mâu thuẫn kịch tính trong lòng hai chị em. Một mặt qua gánh phở của bác Xiêu chúng cứ nghĩ về Hà Nội, một thời rực sáng với những bát phở ngon lành mà chúng được ăn còn bây giờ như một món quà xa xỉ, cái quá khứ một thời ấy một đi không trở lại. Họ chỉ còn biết thương về tương lai nhưng tương lai là cái gì không biết được, chỉ biết rằng đêm đêm hai đứa trẻ cũng như những con người nơi phố huyện thao thức đợi chờ nó được gửi gắm vào đoàn tàu đêm đi qua. Đoàn tàu có một sức hấp dẫn quyến rũ đặc biệt nó mang lại một thế giới thực sự. Đó là thế giới những âm thanh rộn ràng náo nhiệt “rất đơn giản là tiếng bánh xe nghiến trên đường ray nhưng người ta những tưởng đó là cuộc sống hối hả vui tươi” khác hẳn với những âm thanh nhỏ giọt não nề ở trên kia. Đặc biệt là ánh sáng rực rỡ của ánh điện văn minh khác với những ngọn đèn dầu những đóm lửa leo lét tàn tạ, thứ ánh sáng ấy làm lộ ra một cuộc sống sang trọng của những toa ghế mạ đờn kềnh bóng loáng. Nó khác hẳn với chiếc chõng tre ộp ẹp của chị Tý, manh chiếu rách thảm thương của bác Xẩm và túp lều dán đầy giấy nhật trình của chị em Liên. Đó là thế giới đô thị văn minh thật sự mang lại một sức sống mới cho con người nơi phố huyện. Tất nhiên đó chỉ là cõi tưởng tượng của vô thức bản năng. Tuy nhiên đứng về cái tôi trí thức một thời đây là vấn đề của ý thức. Họ đang khao khát được giải phóng, khao khát về một sự đổi đời thay cái lạc hậu cũ kĩ để tìm đến thế giới văn minh, tất nhiên lí tưởng ấy thật ảo tượng nó chỉ chợt đến rồi đi trong khoảnh khắc. Tương lai thật mơ hồ xa xôi cứ như con tàu đến rồi đi, không biết về đâu giữa cõi đời mênh mông bóng tối.

3. Số phận của con người một thời bị nhấn chìm trong bế tắc. Đọc văn Thạch Lam ta cảm thấy đau đớn hơn, bận bịu hơn về quê hương, đất nước. Biết bao giờ những cảnh đời lam lũ, văng vẳng trong tiếng ếch nhái, tiếng muỗi vo ve và đâu đó tiếng đàn bầu run bần bật cuộc sống đô thị náo nhiệt vẫn chưa thay thế hết những cảnh đời tủi nhục. Những trang văn của Thạch Lam đi vào trong ta những cảm xuác êm ái nhẹ nhàng làm cho trái tim ta phập phồng thổn thức với một lẽ sống nhân ái bao la.

“Vội vàng” của Xuân Diệu

Phân tích bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu (phân tích tâm trạng của Xuân Diệu trong bài thơ “Vội vàng”).

1. Trong nền thi ca hiện đại Việt Nam Xuân Diệu là một tác gia lớn, một đại biểu xuất sắc. Từ trong phong trào thơ mới ông xuất hiện và trỗi dậy như một ngôi sao sáng. Đọc thơ Xuân Diệu thời thơ mới ta bắt gặp một hồn thơ dạt dào, một nỗi niềm ham sống ham yêu đến cuồng nhiệt mê say. Bài thơ “Vội vàng” in trong tập “Thơ thơ” 1938 là một tuyên ngôn sống sôi nổi của Xuân Diệu thời thơ mới. Tuyên ngôn sống này được thể hiện qua những tâm trạng cung bậc điển hình: reo vui trước sự sống dâng trào, thản thốt lo âu trước sự trôi chảy của sự sống từ đó mà vội vàng quấn quýt muốn ôm ghì sự sống để tận hưởng cho thoã mãn cái tôi yêu đời của mình.

2.a. Trước một thực tế nghiệt ngã của đời sống là thời gian cứ trôi đi kéo theo cuộc đời sự sống cũng trôi đi, nhà thơ khát khao muốn đoạt quyền tạo hoá để níu giữ thời gian, níu giữ sự sống. Bốn câu thơ mở đầu là diễn tả nỗi niềm khát khao đó. Hành động tắt nắng, buộc gió là để níu giữ sắc màu cuộc sống, hương sắc cuộc sống. Sắc màu và hương sắc mà nhà thơ muốn níu giữ ở đây là hình ảnh dâng trào của mùa xuân.

Trên cái nền của mùa xuân sự sống đang độ dâng trào, đang độ dâng hương toả sắc: ong bướm thì đang độ tuần tháng mật, hoa thì đang sắc thắm trên đồng nội xanh rì, lá thì đang độ non tơ trên cành tơ phơ phất, chim yến anh đang độ giao hoà khúc tình si, ánh sáng mùa xuân đang chói loà rực rỡ chớp hàng mi. Tất cả như đang dồn tụ dâng trào sức sống của mùa xuân. Không dừng lại ở việc nêu hình ảnh và gợi sức sống dâng trào hương sắc qua hình ảnh mà ở đoạn thơ này nhà thơ còn sử dụng điệp từ “này đây” đặt trước mỗi hình ảnh, cảnh vật là muốn nhấn mạnh sự sống không chỉ dâng trào mà còn dâng trào đi muôn nơi, dâng trào đến vô cùng vô tận.

Hình ảnh mùa xuân được khắc hoạ qua một loạt hình ảnh gợi hình gợi cảnh và qua cách nhấn mạnh bằng điệp từ, nhà thơ nhằm khái quát hình ảnh sức sống mùa xuân đang độ dâng trào mãnh liệt, đang đem đến cho con người những niềm vui bất tận, điều đó được tác giả khái quát qua hình ảnh mùa xuân là “thần vui” đến với con người.

b. Đứng trước vẻ đẹp sức sống của mùa xuân nhà thơ như giật mình nghĩ đến sự hữu hạn của mùa xuân, của tuổi trẻ, của cuộc đời. Từ đó mà có tâm trạng thản thốt lo âu về sự cuốn đi theo dòng chảy của thời gian. Trước hết là lo âu về sự trôi đi của sự sống, của mùa xuân. Tâm trạng này được tác giả nhấn mạnh qua một loạt hình ảnh: xuân tới, xuân qua, xuân còn non, xuân sẽ già, xuân hết, tôi cũng mất. Mùa xuân cũng đồng nghĩa với tuổi trẻ nên đứng trước cảm giác trôi đi của mùa xuân, nhà thơ cũng giật mình nghĩ đến sự hữu hạn của tuổi trẻ. Với cách nói:

“Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”

Mở rộng giác quan nhà thơ còn thấy cả đất trời tạo vật cũng đang độ trôi đi. Với những từ chỉ sự chia li như chia phôi, tiễn biệt, bay đi, đứt tiếng, phai tàn để chỉ về những hình ảnh của đất trời như tháng năm, sông núi, con gió, con chim nhằm gợi ra cả đất trời cũng đang trôi đi nghĩa là tất cả đang trôi đi.

c. Đứng trước cảm nhận về sự trôi đi của mùa xuân, của tuổi trẻ, của đất trời cái tôi trữ tình của Xuân Diệu đã có một thái độ sống tích cực đó là vội vàng muốn ghì níu tận hưởng sự sống để thoả mãn cái tôi yêu đời của mình. Thái độ sống vội vàng tích cực đó trước hết được tác giả thể hiện qua thái độ quyết liệt muốn ôm ghì lấy sự sống mà tận hưởng. Những động từ có cảm giác mạnh như ôm, riết, thâu, say, cắn nhà thơ đã thể hiện rõ được thái độ cuồng nhiệt đó. Không chỉ dừng lại ở thái độ sống mãnh liệt mà nhà thơ còn thể hiện khát vọng này bằng một cách thể hiện khác đó là chuyển hoá cái tôi thành ta qua điệp từ “ta” là muốnh oá mình thành muôn triệu người để ôm, riết, thâu, say, cắn được nhiều nhất thanh sắc của sự sống cho no nê đả đầy khát vọng của mình.

3. Bài thơ “Vội vàng” là bài thơ tự thuật về khát vọng sự sống của Xuân Diệu. Đọc bài thơ này ta đồng tình với nhận xét của Thế Lữ về Xuân Diệu “Ông hăm hở đi tìm những nơi sự sống dồi dào tụ lại, khi ông khát khao vô biên tuyệt đích chẳng phải ông muốn lên tới đỉnh cao nhất của sự sống đó sao”. Nếu như Hoài Thanh nhận định “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” thì ta cũng có thể nói bài thơ “Vội vàng” là bài thơ mới nhất trong các bài thơ mới. Mới ở cách sử dụng hệ thống cấu trúc câu thơ biến hoá khác nhau, mới ở cách cảm cách nghĩ, mới ở cách sử dụng hình ảnh, mới ở cách dùng điệp từ đa dạng hợp lí. Tất cả những thủ pháp nghệ thuật đó đã góp phần làm nên cái mới cái hay của bài thơ.