“Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng

Phân tích nghệ thuật trào phúng châm biếm đặc sắc trong “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng.

1. Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) là một nhà văn hiện thực xuất sắc, một cây bút trào phúng bậc thầy. Ông chỉ sáng tác trong một khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương phong phú và giá trị. Đỉnh cao trong sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng là tiểu thuyết “Số đỏ” 1936, một cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học. Tiểu thuyết “Số đỏ” là một pho đại hài kịch, mỗi chương là một màn trò đời bỉ ổi của xã hội âu hoá nửa tây nửa ta trước cách mạng tháng Tám mà Vũ Trọng Phụng thường gọi là xã hội chó đểu. Trong các chương thì chương mười lăm có tên “Hạnh phúc của một tang gia” là chương có giọng điệu trào phúng đặc sắc nhất.

2.a. Trong mọi nền văn học đều có văn chương trào phúng dùng tiếng cười trào lộng để phê phán châm biếm xã hội hay thói đời xấu xa. Trong văn chương Việt Nam có tiếng cười ngạo nghễ của Nguyễn Công Trứ, tiếng cười thâm thuý của Nguyễn Khuyến, tiếng cười chua chát của Tú Xương đến Vũ Trọng Phụng thì ông dùng tiếng cười sảng khoái để lật tẩy trắng đen của xã hội. Thủ pháp nghệ thuật chính mà Vũ Trọng Phụng sử dụng trong chương “Hạnh phúc của một tang gia” là tạo mâu thuẫn và phóng đại để gây cười. Vũ Trọng Phụng đã vin vào cái chết của cụ cố Tổ để đưa lên trang sách “vài ba trăm người” để mà giễu nhại thoả thích. Tiếng cười châm biếm đầu tiên được tác giả xoáy sâu vào tâm trạng của tang gia. Đám tang cụ cố Tổ lẽ ra tang gia rất đau buồn thì không khí chung và mọi thành viên trong gia đình lại rất hạnh phúc.

Cảnh tượng chung của tang gia là tràn trề hạnh phúc “cái chết kia làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Đặc biệt là đám con cháu thì “sung sướng thoả thích”, “tưng bừng đi đưa cáo phó gọi phường kèn”.

Tâm trạng riêng của mỗi thành viên trong gia đình tuy có biểu hiện khác nhau nhưng đều gặp gỡ nhau ở một điểm chung đó là sung sướng hạnh phúc. Người chủ đám tang là cụ cố Hồng, con trai trưởng cụ cố Tổ thì sung sướng đến mức ngồi hút thuốc phiện say sưa đến sáu mươi điếu, nói lảm nhảm một câu vô trách nhiệm “biết rồi khổ lắm nói mãi” đến 1872 lần. Cụ mơ màng nghĩ đến lời khen của thiên hạ khi đám tang diễn ra. Ông Văn Minh cháu đích tôn của cụ cố Tổ thì mừng ra mặt vì “cái chúc thư kia sẽ vào kỳ thực hành chứ không còn lý thuyết viễn vong nữa”. Còn bà Văn Minh thì “sốt cả ruột” vì chưa được trình diễn đồ tang của tiệm may âu hoá. Cậu Tú Tân thì cứ “điên người lên” vì đám tang chưa chịu diễn ra để được chụp hình thoả thích. Ông Phán mọc sừng có lẽ là người mừng nhất vì ông được cụ cố Hồng bố vợ nói nhỏ sẽ chia thêm hai nghìn đồng bù vào danh dự nên nghĩ cách doanh thương với Xuân Tóc Đỏ. Bà cố Hồng thì lo đi sang nhà vị hôn thê của cô Tuyết con gái để vận động chạy cưới tang. Không khí vui tươi hạnh phúc của gia đình lan toả ra ngoài làm cho hai viên cảnh sát Min Đơ, Min Tra cũng sung sướng cực điểm.

Qua tâm trạng của các thành viên trong gia đình cụ cố Tổ ta thấy tất cả họ đều sung sướng hạnh phúc. Đám con cháu từ già đến trẻ không hề có một điệu buồn, một giọt nước mắt. Đúng là một lũ người âu hoá bất nhân bất nghĩa.

b. Cụ cố Tổ là một bậc đại gia trưởng lão rất đáng kính, cụ luôn bảo vệ những nét gia phong truyền thống nên khi cụ nghe tin cháu gái ngoại tình nên đã uất ức lên mà chết. Như thế lẽ ra đám tang cụ cố Tổ phải được tổ chức theo lối truyền thống theo lối ta trang nghiêm thành kính, thì đám tang lại được tổ chức bát nháo theo kiểu âu hoá rởm đời.

Đám tang cụ cố Tổ được bọn người xưng danh là âu hoá đã tổ chức “theo cả lối ta tàu tây” có “kèn ta kèn tây kèn tàu” rộn lên bát nháo như một đám hội chợ. Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã tập trung ngòi bút dựng lên cảnh tượng của đám đông đi đưa tang với một sự ngược đời kì lạ chưa từng có. Đám tang có đến “vài ba trăm người đi đưa” đủ mặt các tầng lớp của xã hội thượng lưu âu hoá nhưng không có một ai mang bộ mặt tâm trạng của người đi đưa tang. Những người bạn già của cụ cố Hồng lẽ ra trang nghiêm nhất thì lại là kịch cỡm đểu giả nhất. Họ đi đưa tang mà ngực đeo đầy huân chương như đi giễu hành dự hội, đểu giả hơn là mắt cứ dán vào làn da trắng thập thò của cô gái tân thời không hề chú ý đến đám tang. Những người khác thì đi đưa tang nhưng không hề chú ý đến đấm tang mà chỉ lo “chuyện trò về vợ con, về nhà cửa, về cái tủ mới sắm, cái áo mới may”. Đặc biệt là những người bạn gái của cô Tuyết, bà Hoàng Hôn, bà Văn Minh thì “cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau”. Tất cả bọn họ không hề có một giọt nước mắt, một nét buồn phù hợp với một đám tang.

Cao tào của màn kịch của đám tang là cảnh hạ huyệt. Lẽ ra cảnh hạ huyệt là lúc tang gia đau thương nhất thì lại là lúc bộc lộ bộ mặt giả nhân giả nghĩa nhất. Ông Phán mọc sừng, đứa cháu rể “quý hoá”  giả đò khóc hức hức để mượn cớ tựa người vào Xuân Tóc Đỏ để dúi tờ bạc năm đồng gấp tư, thanh toán nốt tiền công cho Xuân Tóc Đỏ đã có công giết cụ cố Tổ.

Không chỉ những thành viên trong gia đình tang gia mà cả vài ba trăm con người trong đám tang cũng không ai có một nét buồn đúng nghĩa, một giọt nước mắt cho người quá cố. Dựng lên bộ mặt giả nhân giả nghĩa được thể hiện qua đám tang nhà văn nhằm phê phán cái xã hội nửa tây nửa ta, một xã hội chó đểu.

3. Với ngòi bút châm biếm sắc xảo, Vũ Trọng Phụng đã đưa lên trang sách đầy đủ bộ mặt của bọn thượng lưu để chỉ mặt vạch tên về bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chúng. Thông qua tiểu thuyết “Số đỏ” nói chung chương này nói riêng, nhà văn nhằm phê phán cái xã hội thượng lưu rửa bùa đã làm băng hoại những giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s