“Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

1. Tô Hoài là một nhà văn có quá trình sáng tác rất dài, từ những năm 40 của thế kỷ trước đến nay. Với số lượng tác phẩm tương đối đồ sộ được viết bằng nhiều thể loại và hầu như thể loạ nào cũng thành công. Thành quả đó đã đưa ông lên vị trí của một nhà văn hiện thực đại xuất sắc. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác của ông. Truyện được viết trong những năm tháng ông theo những bước chân của bộ đội lên tham gia giải phóng Tây Bắc. Trong tác phẩm này nhà văn phản ánh hai quá trình của người dân miền núi, quá trình khổ đau và quá trình đi với cách mạng nhưng đậm nét nhất vẫn là mãn hiện thực đen tối của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách bọn chúa đất chúa rừng, bọn phong kiến tàn bạo. Diễn tả hiện thực đau đời của người dân miền núi, nhà văn vừa thể hiện được một nhận thức mới về người dân, vừa thể hiện được tình cảm nhân đạo cao cả của mình.

2.a. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được kết cấu theo hai phần rất rõ rệt, một phần diễn tả cuộc sống của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài và một phần phản ánh cuộc sống của vợ chồng A Phủ ở Phiềng Sa. Trong hai phần này nhà văn viết thành công nhất là cuộc sống của Mị và A Phủ trong nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài. Thông qua hai nhân vật chính Mị và A Phủ nhà văn đã tái hiện được một bức tranh đời sống của những người dân miền núi Tây Bẳc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Mị và A Phủ là hiện thực cho người dân miền núi Tây Bắc cũng như sự đau đời của họ trong tay bọn phong kiến tàn ác. Mị vốn là một cô gái trẻ đẹp hay lam hay làm hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp nhưng chỉ vì món nợ truyền kiếp Mị đã bỗng nhiên rơi vào cảnh ngang trái, Mị trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị tước đoạt hoàn toàn về tự do. Cuộc sống đó đã dồn đẩy Mị đến cực điểm của khổ đau đó là cam chịu tê dại mọi cảm giác về hạnh phúc. Nhân vật A Phủ cũng có cảnh ngộ tương đồng như Mị. Nếu Mị trẻ đẹp có đức tính siêng năng cần cù làm ăn thì A Phủ lại vừa khoẻ vừa giỏi gian đã trở thành niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái làng bản. A Phủ cũng hứa hẹn một cuộc sống tự chủ và hạnh phúc nhưng sống trong xã hội phong kiến tàn bạo đó A Phủ cũng rơi vào cạn bẫy cảu chúng. Nếu Mị là con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở trừ nợ. A Phủ cũng chịu cảnh sống khổ đau tăm tối không khác mấy so với Mị. A Phủ sống cô đơn lầm lũi trong rừng nhưng thống lí Pá Tra vẫn chưa buông tha, nhân việc mất một con bò A Phủ đã bị trói đứng, bị hành hạ, bị tước đoạt hoàn toàn sự sống tự do, quyền tự do. Trong nanh vuốt của bọn thống lí Pá Tra nạn nhân không chỉ là Mị và A Phủ mà còn nhiều rất nhiều người khác nữa. Những người đàn bà ở xung quanh Mị trong nhà thống lí cũng có cùng cảnh ngộ, những cảnh bị trói như Mị và A Phủ cũng có nhiều người trải qua và có người đã chết. Diễn tả một sự tương đồng đó nhà văn nhằm gián tiếp khái quát lên một điều những người dân nghèo khổ của miền núi Tây Bắc đều là nạn nhân của bọn phong kiến của bọn thống lí Pá Tra. Đó là một bức tranh đen tối, đó là một hiện thực tối tăm của người dân miền núi khi chưa được Đảng giác ngộ.

Người dân miền núi sống trong sự bất công ngang trái bởi ở đó hiển hiện một thế lực hắt ám. Thế lực đó chính là bọn phong kiến bọn thống trị chúng là thủ phạm chính gây nên những cảnh đời khổ đau, tăm tối cho người dân. Ở trong tác phẩm này đại diện cho bọn thống trị này là cha con nhà thống lí Pa Tra. Thống lí xuất hiện trong tác phẩm như một kẻ chủ mưu cho mọi tội ác. Nó có thể ra lệnh để bắt người vô lí, để đánh trói người một cách tàn nhẫn mà không một chút đắn đo. Sống trong nhà thống lí cũng có nghĩa là sống trong một sự cai quản chắc chắn của nó, hầu như tất cả mọi người đều biến thành nô lệ. Ngoài sức mạnh uy quyền nó còn dùng sức mạnh thần quyền để ràng buộc tự do để bắt con người cam chịu mà phục vụ một cách ngoan ngoãn cho chính quyền lợi của nó. A Sử vừa là con vừa là tay chân của thống lí cũng không kém phần tàn bạo. Nó ngang nhiên bắt Mị về làm vợ, làm nô lệ, nó hành hạ ràng buộc tự do của Mị. Đối với A Sử không chỉ gieo rắc tai hoạ cho một cá nhân như Mị mà nó còn đi phá đám, phá nát niềm vui, vui xuân của bao nhiêu trai gái bản làng khác. Thống lí Pá Tra và A Sử đã trở thành bóng ma hắt ám ám ảnh bao nhiêu số phận người dân miền núi mà chưa thấy điểm dừng. Không chỉ có cha con thống lí mà bọn quan dịch bọn quan lang trong bản làng cũng một bè một cánh hoà nhau gieo rắt tai hoạ cho A Phủ cho dân lành. Phản ánh bọn thống trị đó nhà văn muốn người đọc liên tưởng đến bọn người tàn ác, tàn bạo đang làm điêu đứng những cảnh đời trên những nẻo rừng Tây Bắc.

b. Phản ánh hiện thực đen tối nói trên là chính tác giả đã thể  hiện được sự cảm thông sâu sắc đối với những cảnh đời tối tăm, những con người đau khổ của người dân trên những bản làng Tây Bắc. Sự cảm thông này không dừng ở diễn tả nỗi nhục nhã đau đời của Mị và A Phủ, của bao người dân khác mà nhà văn còn gần như trực tiếp tố cáo vạch trần bản chất tàn bạo của bọn thống trị, của bọn người ăn thịt người ngọt sớt.

Trong quá trình phản ánh hiện thực nhà văn đã phát hiện được tâm hồn và tình cảm của những con người cùng khổ. Đó là tình hữu ái giai cấp, tình thương giữa những người cùng hội cùng thuyền cùng cảnh ngộ. Việc Mị động lòng thương và sẵn sàng hi sinh cứu A Phủ là một nét đẹp như thế.

Đặc biệt nhất trong các cung bậc tình cảm trong những biểu hiện nhân đạo củan hà văn đó là đề cao được sức sống tiềm ẩn và khát vọng tự do của những con người bị đè nén, bị ấp bức, tiêu biểu cho vẻ đẹp này là ở nhân vật Mị.

3. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” đã thành công ở nhiều phương diện, phương diện miêu tả bức tranh hiện thực, bức tranh tâm trạng và đặc biệt hơn hết là thể hiện được quan điểm tiến bộ của nhà văn Tô Hoài trong việc tìm thấy bản chất, sức sống tiềm ẩn, tiềm tàng trong những con người miền núi phải sống trong một xã hội tối tăm mất tự do. Đây là kết quả của nhiều tháng đi thực tế sáng tác trên vùng núi Tây Bắc xa xôi. Tác phẩm này đã thể hiện một sự diễn biến toàn diện về nhận thúc sáng tác của Tô Hoài khi ông cuối xuống phản ánh những cuộc đời bé nhỏ.

 

1. Tô Hoài là một nhà văn có quá trình sáng tác rất dài, từ những năm 40 của thế kỷ trước đến nay. Với số lượng tác phẩm tương đối đồ sộ được viết bằng nhiều thể loại và hầu như thể loạ nào cũng thành công. Thành quả đó đã đưa ông lên vị trí của một nhà văn hiện thực đại xuất sắc. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác của ông. Truyện được viết trong những năm tháng ông theo những bước chân của bộ đội lên tham gia giải phóng Tây Bắc. Trong tác phẩm này nhà văn phản ánh hai quá trình của người dân miền núi, quá trình khổ đau và quá trình đi với cách mạng nhưng đậm nét nhất vẫn là mãn hiện thực đen tối của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách bọn chúa đất chúa rừng, bọn phong kiến tàn bạo. Diễn tả hiện thực đau đời của người dân miền núi, nhà văn vừa thể hiện được một nhận thức mới về người dân, vừa thể hiện được tình cảm nhân đạo cao cả của mình.

2.a. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được kết cấu theo hai phần rất rõ rệt, một phần diễn tả cuộc sống của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài và một phần phản ánh cuộc sống của vợ chồng A Phủ ở Phiềng Sa. Trong hai phần này nhà văn viết thành công nhất là cuộc sống của Mị và A Phủ trong nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài. Thông qua hai nhân vật chính Mị và A Phủ nhà văn đã tái hiện được một bức tranh đời sống của những người dân miền núi Tây Bẳc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Mị và A Phủ là hiện thực cho người dân miền núi Tây Bắc cũng như sự đau đời của họ trong tay bọn phong kiến tàn ác. Mị vốn là một cô gái trẻ đẹp hay lam hay làm hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp nhưng chỉ vì món nợ truyền kiếp Mị đã bỗng nhiên rơi vào cảnh ngang trái, Mị trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị tước đoạt hoàn toàn về tự do. Cuộc sống đó đã dồn đẩy Mị đến cực điểm của khổ đau đó là cam chịu tê dại mọi cảm giác về hạnh phúc. Nhân vật A Phủ cũng có cảnh ngộ tương đồng như Mị. Nếu Mị trẻ đẹp có đức tính siêng năng cần cù làm ăn thì A Phủ lại vừa khoẻ vừa giỏi gian đã trở thành niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái làng bản. A Phủ cũng hứa hẹn một cuộc sống tự chủ và hạnh phúc nhưng sống trong xã hội phong kiến tàn bạo đó A Phủ cũng rơi vào cạn bẫy cảu chúng. Nếu Mị là con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở trừ nợ. A Phủ cũng chịu cảnh sống khổ đau tăm tối không khác mấy so với Mị. A Phủ sống cô đơn lầm lũi trong rừng nhưng thống lí Pá Tra vẫn chưa buông tha, nhân việc mất một con bò A Phủ đã bị trói đứng, bị hành hạ, bị tước đoạt hoàn toàn sự sống tự do, quyền tự do. Trong nanh vuốt của bọn thống lí Pá Tra nạn nhân không chỉ là Mị và A Phủ mà còn nhiều rất nhiều người khác nữa. Những người đàn bà ở xung quanh Mị trong nhà thống lí cũng có cùng cảnh ngộ, những cảnh bị trói như Mị và A Phủ cũng có nhiều người trải qua và có người đã chết. Diễn tả một sự tương đồng đó nhà văn nhằm gián tiếp khái quát lên một điều những người dân nghèo khổ của miền núi Tây Bắc đều là nạn nhân của bọn phong kiến của bọn thống lí Pá Tra. Đó là một bức tranh đen tối, đó là một hiện thực tối tăm của người dân miền núi khi chưa được Đảng giác ngộ.

Người dân miền núi sống trong sự bất công ngang trái bởi ở đó hiển hiện một thế lực hắt ám. Thế lực đó chính là bọn phong kiến bọn thống trị chúng là thủ phạm chính gây nên những cảnh đời khổ đau, tăm tối cho người dân. Ở trong tác phẩm này đại diện cho bọn thống trị này là cha con nhà thống lí Pa Tra. Thống lí xuất hiện trong tác phẩm như một kẻ chủ mưu cho mọi tội ác. Nó có thể ra lệnh để bắt người vô lí, để đánh trói người một cách tàn nhẫn mà không một chút đắn đo. Sống trong nhà thống lí cũng có nghĩa là sống trong một sự cai quản chắc chắn của nó, hầu như tất cả mọi người đều biến thành nô lệ. Ngoài sức mạnh uy quyền nó còn dùng sức mạnh thần quyền để ràng buộc tự do để bắt con người cam chịu mà phục vụ một cách ngoan ngoãn cho chính quyền lợi của nó. A Sử vừa là con vừa là tay chân của thống lí cũng không kém phần tàn bạo. Nó ngang nhiên bắt Mị về làm vợ, làm nô lệ, nó hành hạ ràng buộc tự do của Mị. Đối với A Sử không chỉ gieo rắc tai hoạ cho một cá nhân như Mị mà nó còn đi phá đám, phá nát niềm vui, vui xuân của bao nhiêu trai gái bản làng khác. Thống lí Pá Tra và A Sử đã trở thành bóng ma hắt ám ám ảnh bao nhiêu số phận người dân miền núi mà chưa thấy điểm dừng. Không chỉ có cha con thống lí mà bọn quan dịch bọn quan lang trong bản làng cũng một bè một cánh hoà nhau gieo rắt tai hoạ cho A Phủ cho dân lành. Phản ánh bọn thống trị đó nhà văn muốn người đọc liên tưởng đến bọn người tàn ác, tàn bạo đang làm điêu đứng những cảnh đời trên những nẻo rừng Tây Bắc.

b. Phản ánh hiện thực đen tối nói trên là chính tác giả đã thể  hiện được sự cảm thông sâu sắc đối với những cảnh đời tối tăm, những con người đau khổ của người dân trên những bản làng Tây Bắc. Sự cảm thông này không dừng ở diễn tả nỗi nhục nhã đau đời của Mị và A Phủ, của bao người dân khác mà nhà văn còn gần như trực tiếp tố cáo vạch trần bản chất tàn bạo của bọn thống trị, của bọn người ăn thịt người ngọt sớt.

Trong quá trình phản ánh hiện thực nhà văn đã phát hiện được tâm hồn và tình cảm của những con người cùng khổ. Đó là tình hữu ái giai cấp, tình thương giữa những người cùng hội cùng thuyền cùng cảnh ngộ. Việc Mị động lòng thương và sẵn sàng hi sinh cứu A Phủ là một nét đẹp như thế.

Đặc biệt nhất trong các cung bậc tình cảm trong những biểu hiện nhân đạo củan hà văn đó là đề cao được sức sống tiềm ẩn và khát vọng tự do của những con người bị đè nén, bị ấp bức, tiêu biểu cho vẻ đẹp này là ở nhân vật Mị.

3. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” đã thành công ở nhiều phương diện, phương diện miêu tả bức tranh hiện thực, bức tranh tâm trạng và đặc biệt hơn hết là thể hiện được quan điểm tiến bộ của nhà văn Tô Hoài trong việc tìm thấy bản chất, sức sống tiềm ẩn, tiềm tàng trong những con người miền núi phải sống trong một xã hội tối tăm mất tự do. Đây là kết quả của nhiều tháng đi thực tế sáng tác trên vùng núi Tây Bắc xa xôi. Tác phẩm này đã thể hiện một sự diễn biến toàn diện về nhận thúc sáng tác của Tô Hoài khi ông cuối xuống phản ánh những cuộc đời bé nhỏ.

 

1. Tô Hoài là một nhà văn có quá trình sáng tác rất dài, từ những năm 40 của thế kỷ trước đến nay. Với số lượng tác phẩm tương đối đồ sộ được viết bằng nhiều thể loại và hầu như thể loạ nào cũng thành công. Thành quả đó đã đưa ông lên vị trí của một nhà văn hiện thực đại xuất sắc. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác của ông. Truyện được viết trong những năm tháng ông theo những bước chân của bộ đội lên tham gia giải phóng Tây Bắc. Trong tác phẩm này nhà văn phản ánh hai quá trình của người dân miền núi, quá trình khổ đau và quá trình đi với cách mạng nhưng đậm nét nhất vẫn là mãn hiện thực đen tối của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách bọn chúa đất chúa rừng, bọn phong kiến tàn bạo. Diễn tả hiện thực đau đời của người dân miền núi, nhà văn vừa thể hiện được một nhận thức mới về người dân, vừa thể hiện được tình cảm nhân đạo cao cả của mình.

2.a. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được kết cấu theo hai phần rất rõ rệt, một phần diễn tả cuộc sống của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài và một phần phản ánh cuộc sống của vợ chồng A Phủ ở Phiềng Sa. Trong hai phần này nhà văn viết thành công nhất là cuộc sống của Mị và A Phủ trong nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài. Thông qua hai nhân vật chính Mị và A Phủ nhà văn đã tái hiện được một bức tranh đời sống của những người dân miền núi Tây Bẳc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Mị và A Phủ là hiện thực cho người dân miền núi Tây Bắc cũng như sự đau đời của họ trong tay bọn phong kiến tàn ác. Mị vốn là một cô gái trẻ đẹp hay lam hay làm hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp nhưng chỉ vì món nợ truyền kiếp Mị đã bỗng nhiên rơi vào cảnh ngang trái, Mị trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị tước đoạt hoàn toàn về tự do. Cuộc sống đó đã dồn đẩy Mị đến cực điểm của khổ đau đó là cam chịu tê dại mọi cảm giác về hạnh phúc. Nhân vật A Phủ cũng có cảnh ngộ tương đồng như Mị. Nếu Mị trẻ đẹp có đức tính siêng năng cần cù làm ăn thì A Phủ lại vừa khoẻ vừa giỏi gian đã trở thành niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái làng bản. A Phủ cũng hứa hẹn một cuộc sống tự chủ và hạnh phúc nhưng sống trong xã hội phong kiến tàn bạo đó A Phủ cũng rơi vào cạn bẫy cảu chúng. Nếu Mị là con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở trừ nợ. A Phủ cũng chịu cảnh sống khổ đau tăm tối không khác mấy so với Mị. A Phủ sống cô đơn lầm lũi trong rừng nhưng thống lí Pá Tra vẫn chưa buông tha, nhân việc mất một con bò A Phủ đã bị trói đứng, bị hành hạ, bị tước đoạt hoàn toàn sự sống tự do, quyền tự do. Trong nanh vuốt của bọn thống lí Pá Tra nạn nhân không chỉ là Mị và A Phủ mà còn nhiều rất nhiều người khác nữa. Những người đàn bà ở xung quanh Mị trong nhà thống lí cũng có cùng cảnh ngộ, những cảnh bị trói như Mị và A Phủ cũng có nhiều người trải qua và có người đã chết. Diễn tả một sự tương đồng đó nhà văn nhằm gián tiếp khái quát lên một điều những người dân nghèo khổ của miền núi Tây Bắc đều là nạn nhân của bọn phong kiến của bọn thống lí Pá Tra. Đó là một bức tranh đen tối, đó là một hiện thực tối tăm của người dân miền núi khi chưa được Đảng giác ngộ.

Người dân miền núi sống trong sự bất công ngang trái bởi ở đó hiển hiện một thế lực hắt ám. Thế lực đó chính là bọn phong kiến bọn thống trị chúng là thủ phạm chính gây nên những cảnh đời khổ đau, tăm tối cho người dân. Ở trong tác phẩm này đại diện cho bọn thống trị này là cha con nhà thống lí Pa Tra. Thống lí xuất hiện trong tác phẩm như một kẻ chủ mưu cho mọi tội ác. Nó có thể ra lệnh để bắt người vô lí, để đánh trói người một cách tàn nhẫn mà không một chút đắn đo. Sống trong nhà thống lí cũng có nghĩa là sống trong một sự cai quản chắc chắn của nó, hầu như tất cả mọi người đều biến thành nô lệ. Ngoài sức mạnh uy quyền nó còn dùng sức mạnh thần quyền để ràng buộc tự do để bắt con người cam chịu mà phục vụ một cách ngoan ngoãn cho chính quyền lợi của nó. A Sử vừa là con vừa là tay chân của thống lí cũng không kém phần tàn bạo. Nó ngang nhiên bắt Mị về làm vợ, làm nô lệ, nó hành hạ ràng buộc tự do của Mị. Đối với A Sử không chỉ gieo rắc tai hoạ cho một cá nhân như Mị mà nó còn đi phá đám, phá nát niềm vui, vui xuân của bao nhiêu trai gái bản làng khác. Thống lí Pá Tra và A Sử đã trở thành bóng ma hắt ám ám ảnh bao nhiêu số phận người dân miền núi mà chưa thấy điểm dừng. Không chỉ có cha con thống lí mà bọn quan dịch bọn quan lang trong bản làng cũng một bè một cánh hoà nhau gieo rắt tai hoạ cho A Phủ cho dân lành. Phản ánh bọn thống trị đó nhà văn muốn người đọc liên tưởng đến bọn người tàn ác, tàn bạo đang làm điêu đứng những cảnh đời trên những nẻo rừng Tây Bắc.

b. Phản ánh hiện thực đen tối nói trên là chính tác giả đã thể  hiện được sự cảm thông sâu sắc đối với những cảnh đời tối tăm, những con người đau khổ của người dân trên những bản làng Tây Bắc. Sự cảm thông này không dừng ở diễn tả nỗi nhục nhã đau đời của Mị và A Phủ, của bao người dân khác mà nhà văn còn gần như trực tiếp tố cáo vạch trần bản chất tàn bạo của bọn thống trị, của bọn người ăn thịt người ngọt sớt.

Trong quá trình phản ánh hiện thực nhà văn đã phát hiện được tâm hồn và tình cảm của những con người cùng khổ. Đó là tình hữu ái giai cấp, tình thương giữa những người cùng hội cùng thuyền cùng cảnh ngộ. Việc Mị động lòng thương và sẵn sàng hi sinh cứu A Phủ là một nét đẹp như thế.

Đặc biệt nhất trong các cung bậc tình cảm trong những biểu hiện nhân đạo củan hà văn đó là đề cao được sức sống tiềm ẩn và khát vọng tự do của những con người bị đè nén, bị ấp bức, tiêu biểu cho vẻ đẹp này là ở nhân vật Mị.

3. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” đã thành công ở nhiều phương diện, phương diện miêu tả bức tranh hiện thực, bức tranh tâm trạng và đặc biệt hơn hết là thể hiện được quan điểm tiến bộ của nhà văn Tô Hoài trong việc tìm thấy bản chất, sức sống tiềm ẩn, tiềm tàng trong những con người miền núi phải sống trong một xã hội tối tăm mất tự do. Đây là kết quả của nhiều tháng đi thực tế sáng tác trên vùng núi Tây Bắc xa xôi. Tác phẩm này đã thể hiện một sự diễn biến toàn diện về nhận thúc sáng tác của Tô Hoài khi ông cuối xuống phản ánh những cuộc đời bé nhỏ.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s