“Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

1. Tô Hoài là một nhà văn có quá trình sáng tác rất dài, từ những năm 40 của thế kỷ trước đến nay. Với số lượng tác phẩm tương đối đồ sộ được viết bằng nhiều thể loại và hầu như thể loạ nào cũng thành công. Thành quả đó đã đưa ông lên vị trí của một nhà văn hiện thực đại xuất sắc. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác của ông. Truyện được viết trong những năm tháng ông theo những bước chân của bộ đội lên tham gia giải phóng Tây Bắc. Trong tác phẩm này nhà văn phản ánh hai quá trình của người dân miền núi, quá trình khổ đau và quá trình đi với cách mạng nhưng đậm nét nhất vẫn là mãn hiện thực đen tối của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách bọn chúa đất chúa rừng, bọn phong kiến tàn bạo. Diễn tả hiện thực đau đời của người dân miền núi, nhà văn vừa thể hiện được một nhận thức mới về người dân, vừa thể hiện được tình cảm nhân đạo cao cả của mình.

2.a. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được kết cấu theo hai phần rất rõ rệt, một phần diễn tả cuộc sống của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài và một phần phản ánh cuộc sống của vợ chồng A Phủ ở Phiềng Sa. Trong hai phần này nhà văn viết thành công nhất là cuộc sống của Mị và A Phủ trong nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài. Thông qua hai nhân vật chính Mị và A Phủ nhà văn đã tái hiện được một bức tranh đời sống của những người dân miền núi Tây Bẳc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Mị và A Phủ là hiện thực cho người dân miền núi Tây Bắc cũng như sự đau đời của họ trong tay bọn phong kiến tàn ác. Mị vốn là một cô gái trẻ đẹp hay lam hay làm hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp nhưng chỉ vì món nợ truyền kiếp Mị đã bỗng nhiên rơi vào cảnh ngang trái, Mị trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị tước đoạt hoàn toàn về tự do. Cuộc sống đó đã dồn đẩy Mị đến cực điểm của khổ đau đó là cam chịu tê dại mọi cảm giác về hạnh phúc. Nhân vật A Phủ cũng có cảnh ngộ tương đồng như Mị. Nếu Mị trẻ đẹp có đức tính siêng năng cần cù làm ăn thì A Phủ lại vừa khoẻ vừa giỏi gian đã trở thành niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái làng bản. A Phủ cũng hứa hẹn một cuộc sống tự chủ và hạnh phúc nhưng sống trong xã hội phong kiến tàn bạo đó A Phủ cũng rơi vào cạn bẫy cảu chúng. Nếu Mị là con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở trừ nợ. A Phủ cũng chịu cảnh sống khổ đau tăm tối không khác mấy so với Mị. A Phủ sống cô đơn lầm lũi trong rừng nhưng thống lí Pá Tra vẫn chưa buông tha, nhân việc mất một con bò A Phủ đã bị trói đứng, bị hành hạ, bị tước đoạt hoàn toàn sự sống tự do, quyền tự do. Trong nanh vuốt của bọn thống lí Pá Tra nạn nhân không chỉ là Mị và A Phủ mà còn nhiều rất nhiều người khác nữa. Những người đàn bà ở xung quanh Mị trong nhà thống lí cũng có cùng cảnh ngộ, những cảnh bị trói như Mị và A Phủ cũng có nhiều người trải qua và có người đã chết. Diễn tả một sự tương đồng đó nhà văn nhằm gián tiếp khái quát lên một điều những người dân nghèo khổ của miền núi Tây Bắc đều là nạn nhân của bọn phong kiến của bọn thống lí Pá Tra. Đó là một bức tranh đen tối, đó là một hiện thực tối tăm của người dân miền núi khi chưa được Đảng giác ngộ.

Người dân miền núi sống trong sự bất công ngang trái bởi ở đó hiển hiện một thế lực hắt ám. Thế lực đó chính là bọn phong kiến bọn thống trị chúng là thủ phạm chính gây nên những cảnh đời khổ đau, tăm tối cho người dân. Ở trong tác phẩm này đại diện cho bọn thống trị này là cha con nhà thống lí Pa Tra. Thống lí xuất hiện trong tác phẩm như một kẻ chủ mưu cho mọi tội ác. Nó có thể ra lệnh để bắt người vô lí, để đánh trói người một cách tàn nhẫn mà không một chút đắn đo. Sống trong nhà thống lí cũng có nghĩa là sống trong một sự cai quản chắc chắn của nó, hầu như tất cả mọi người đều biến thành nô lệ. Ngoài sức mạnh uy quyền nó còn dùng sức mạnh thần quyền để ràng buộc tự do để bắt con người cam chịu mà phục vụ một cách ngoan ngoãn cho chính quyền lợi của nó. A Sử vừa là con vừa là tay chân của thống lí cũng không kém phần tàn bạo. Nó ngang nhiên bắt Mị về làm vợ, làm nô lệ, nó hành hạ ràng buộc tự do của Mị. Đối với A Sử không chỉ gieo rắc tai hoạ cho một cá nhân như Mị mà nó còn đi phá đám, phá nát niềm vui, vui xuân của bao nhiêu trai gái bản làng khác. Thống lí Pá Tra và A Sử đã trở thành bóng ma hắt ám ám ảnh bao nhiêu số phận người dân miền núi mà chưa thấy điểm dừng. Không chỉ có cha con thống lí mà bọn quan dịch bọn quan lang trong bản làng cũng một bè một cánh hoà nhau gieo rắt tai hoạ cho A Phủ cho dân lành. Phản ánh bọn thống trị đó nhà văn muốn người đọc liên tưởng đến bọn người tàn ác, tàn bạo đang làm điêu đứng những cảnh đời trên những nẻo rừng Tây Bắc.

b. Phản ánh hiện thực đen tối nói trên là chính tác giả đã thể  hiện được sự cảm thông sâu sắc đối với những cảnh đời tối tăm, những con người đau khổ của người dân trên những bản làng Tây Bắc. Sự cảm thông này không dừng ở diễn tả nỗi nhục nhã đau đời của Mị và A Phủ, của bao người dân khác mà nhà văn còn gần như trực tiếp tố cáo vạch trần bản chất tàn bạo của bọn thống trị, của bọn người ăn thịt người ngọt sớt.

Trong quá trình phản ánh hiện thực nhà văn đã phát hiện được tâm hồn và tình cảm của những con người cùng khổ. Đó là tình hữu ái giai cấp, tình thương giữa những người cùng hội cùng thuyền cùng cảnh ngộ. Việc Mị động lòng thương và sẵn sàng hi sinh cứu A Phủ là một nét đẹp như thế.

Đặc biệt nhất trong các cung bậc tình cảm trong những biểu hiện nhân đạo củan hà văn đó là đề cao được sức sống tiềm ẩn và khát vọng tự do của những con người bị đè nén, bị ấp bức, tiêu biểu cho vẻ đẹp này là ở nhân vật Mị.

3. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” đã thành công ở nhiều phương diện, phương diện miêu tả bức tranh hiện thực, bức tranh tâm trạng và đặc biệt hơn hết là thể hiện được quan điểm tiến bộ của nhà văn Tô Hoài trong việc tìm thấy bản chất, sức sống tiềm ẩn, tiềm tàng trong những con người miền núi phải sống trong một xã hội tối tăm mất tự do. Đây là kết quả của nhiều tháng đi thực tế sáng tác trên vùng núi Tây Bắc xa xôi. Tác phẩm này đã thể hiện một sự diễn biến toàn diện về nhận thúc sáng tác của Tô Hoài khi ông cuối xuống phản ánh những cuộc đời bé nhỏ.

 

1. Tô Hoài là một nhà văn có quá trình sáng tác rất dài, từ những năm 40 của thế kỷ trước đến nay. Với số lượng tác phẩm tương đối đồ sộ được viết bằng nhiều thể loại và hầu như thể loạ nào cũng thành công. Thành quả đó đã đưa ông lên vị trí của một nhà văn hiện thực đại xuất sắc. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác của ông. Truyện được viết trong những năm tháng ông theo những bước chân của bộ đội lên tham gia giải phóng Tây Bắc. Trong tác phẩm này nhà văn phản ánh hai quá trình của người dân miền núi, quá trình khổ đau và quá trình đi với cách mạng nhưng đậm nét nhất vẫn là mãn hiện thực đen tối của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách bọn chúa đất chúa rừng, bọn phong kiến tàn bạo. Diễn tả hiện thực đau đời của người dân miền núi, nhà văn vừa thể hiện được một nhận thức mới về người dân, vừa thể hiện được tình cảm nhân đạo cao cả của mình.

2.a. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được kết cấu theo hai phần rất rõ rệt, một phần diễn tả cuộc sống của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài và một phần phản ánh cuộc sống của vợ chồng A Phủ ở Phiềng Sa. Trong hai phần này nhà văn viết thành công nhất là cuộc sống của Mị và A Phủ trong nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài. Thông qua hai nhân vật chính Mị và A Phủ nhà văn đã tái hiện được một bức tranh đời sống của những người dân miền núi Tây Bẳc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Mị và A Phủ là hiện thực cho người dân miền núi Tây Bắc cũng như sự đau đời của họ trong tay bọn phong kiến tàn ác. Mị vốn là một cô gái trẻ đẹp hay lam hay làm hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp nhưng chỉ vì món nợ truyền kiếp Mị đã bỗng nhiên rơi vào cảnh ngang trái, Mị trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị tước đoạt hoàn toàn về tự do. Cuộc sống đó đã dồn đẩy Mị đến cực điểm của khổ đau đó là cam chịu tê dại mọi cảm giác về hạnh phúc. Nhân vật A Phủ cũng có cảnh ngộ tương đồng như Mị. Nếu Mị trẻ đẹp có đức tính siêng năng cần cù làm ăn thì A Phủ lại vừa khoẻ vừa giỏi gian đã trở thành niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái làng bản. A Phủ cũng hứa hẹn một cuộc sống tự chủ và hạnh phúc nhưng sống trong xã hội phong kiến tàn bạo đó A Phủ cũng rơi vào cạn bẫy cảu chúng. Nếu Mị là con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở trừ nợ. A Phủ cũng chịu cảnh sống khổ đau tăm tối không khác mấy so với Mị. A Phủ sống cô đơn lầm lũi trong rừng nhưng thống lí Pá Tra vẫn chưa buông tha, nhân việc mất một con bò A Phủ đã bị trói đứng, bị hành hạ, bị tước đoạt hoàn toàn sự sống tự do, quyền tự do. Trong nanh vuốt của bọn thống lí Pá Tra nạn nhân không chỉ là Mị và A Phủ mà còn nhiều rất nhiều người khác nữa. Những người đàn bà ở xung quanh Mị trong nhà thống lí cũng có cùng cảnh ngộ, những cảnh bị trói như Mị và A Phủ cũng có nhiều người trải qua và có người đã chết. Diễn tả một sự tương đồng đó nhà văn nhằm gián tiếp khái quát lên một điều những người dân nghèo khổ của miền núi Tây Bắc đều là nạn nhân của bọn phong kiến của bọn thống lí Pá Tra. Đó là một bức tranh đen tối, đó là một hiện thực tối tăm của người dân miền núi khi chưa được Đảng giác ngộ.

Người dân miền núi sống trong sự bất công ngang trái bởi ở đó hiển hiện một thế lực hắt ám. Thế lực đó chính là bọn phong kiến bọn thống trị chúng là thủ phạm chính gây nên những cảnh đời khổ đau, tăm tối cho người dân. Ở trong tác phẩm này đại diện cho bọn thống trị này là cha con nhà thống lí Pa Tra. Thống lí xuất hiện trong tác phẩm như một kẻ chủ mưu cho mọi tội ác. Nó có thể ra lệnh để bắt người vô lí, để đánh trói người một cách tàn nhẫn mà không một chút đắn đo. Sống trong nhà thống lí cũng có nghĩa là sống trong một sự cai quản chắc chắn của nó, hầu như tất cả mọi người đều biến thành nô lệ. Ngoài sức mạnh uy quyền nó còn dùng sức mạnh thần quyền để ràng buộc tự do để bắt con người cam chịu mà phục vụ một cách ngoan ngoãn cho chính quyền lợi của nó. A Sử vừa là con vừa là tay chân của thống lí cũng không kém phần tàn bạo. Nó ngang nhiên bắt Mị về làm vợ, làm nô lệ, nó hành hạ ràng buộc tự do của Mị. Đối với A Sử không chỉ gieo rắc tai hoạ cho một cá nhân như Mị mà nó còn đi phá đám, phá nát niềm vui, vui xuân của bao nhiêu trai gái bản làng khác. Thống lí Pá Tra và A Sử đã trở thành bóng ma hắt ám ám ảnh bao nhiêu số phận người dân miền núi mà chưa thấy điểm dừng. Không chỉ có cha con thống lí mà bọn quan dịch bọn quan lang trong bản làng cũng một bè một cánh hoà nhau gieo rắt tai hoạ cho A Phủ cho dân lành. Phản ánh bọn thống trị đó nhà văn muốn người đọc liên tưởng đến bọn người tàn ác, tàn bạo đang làm điêu đứng những cảnh đời trên những nẻo rừng Tây Bắc.

b. Phản ánh hiện thực đen tối nói trên là chính tác giả đã thể  hiện được sự cảm thông sâu sắc đối với những cảnh đời tối tăm, những con người đau khổ của người dân trên những bản làng Tây Bắc. Sự cảm thông này không dừng ở diễn tả nỗi nhục nhã đau đời của Mị và A Phủ, của bao người dân khác mà nhà văn còn gần như trực tiếp tố cáo vạch trần bản chất tàn bạo của bọn thống trị, của bọn người ăn thịt người ngọt sớt.

Trong quá trình phản ánh hiện thực nhà văn đã phát hiện được tâm hồn và tình cảm của những con người cùng khổ. Đó là tình hữu ái giai cấp, tình thương giữa những người cùng hội cùng thuyền cùng cảnh ngộ. Việc Mị động lòng thương và sẵn sàng hi sinh cứu A Phủ là một nét đẹp như thế.

Đặc biệt nhất trong các cung bậc tình cảm trong những biểu hiện nhân đạo củan hà văn đó là đề cao được sức sống tiềm ẩn và khát vọng tự do của những con người bị đè nén, bị ấp bức, tiêu biểu cho vẻ đẹp này là ở nhân vật Mị.

3. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” đã thành công ở nhiều phương diện, phương diện miêu tả bức tranh hiện thực, bức tranh tâm trạng và đặc biệt hơn hết là thể hiện được quan điểm tiến bộ của nhà văn Tô Hoài trong việc tìm thấy bản chất, sức sống tiềm ẩn, tiềm tàng trong những con người miền núi phải sống trong một xã hội tối tăm mất tự do. Đây là kết quả của nhiều tháng đi thực tế sáng tác trên vùng núi Tây Bắc xa xôi. Tác phẩm này đã thể hiện một sự diễn biến toàn diện về nhận thúc sáng tác của Tô Hoài khi ông cuối xuống phản ánh những cuộc đời bé nhỏ.

 

1. Tô Hoài là một nhà văn có quá trình sáng tác rất dài, từ những năm 40 của thế kỷ trước đến nay. Với số lượng tác phẩm tương đối đồ sộ được viết bằng nhiều thể loại và hầu như thể loạ nào cũng thành công. Thành quả đó đã đưa ông lên vị trí của một nhà văn hiện thực đại xuất sắc. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác của ông. Truyện được viết trong những năm tháng ông theo những bước chân của bộ đội lên tham gia giải phóng Tây Bắc. Trong tác phẩm này nhà văn phản ánh hai quá trình của người dân miền núi, quá trình khổ đau và quá trình đi với cách mạng nhưng đậm nét nhất vẫn là mãn hiện thực đen tối của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách bọn chúa đất chúa rừng, bọn phong kiến tàn bạo. Diễn tả hiện thực đau đời của người dân miền núi, nhà văn vừa thể hiện được một nhận thức mới về người dân, vừa thể hiện được tình cảm nhân đạo cao cả của mình.

2.a. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được kết cấu theo hai phần rất rõ rệt, một phần diễn tả cuộc sống của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài và một phần phản ánh cuộc sống của vợ chồng A Phủ ở Phiềng Sa. Trong hai phần này nhà văn viết thành công nhất là cuộc sống của Mị và A Phủ trong nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài. Thông qua hai nhân vật chính Mị và A Phủ nhà văn đã tái hiện được một bức tranh đời sống của những người dân miền núi Tây Bẳc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Mị và A Phủ là hiện thực cho người dân miền núi Tây Bắc cũng như sự đau đời của họ trong tay bọn phong kiến tàn ác. Mị vốn là một cô gái trẻ đẹp hay lam hay làm hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp nhưng chỉ vì món nợ truyền kiếp Mị đã bỗng nhiên rơi vào cảnh ngang trái, Mị trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị tước đoạt hoàn toàn về tự do. Cuộc sống đó đã dồn đẩy Mị đến cực điểm của khổ đau đó là cam chịu tê dại mọi cảm giác về hạnh phúc. Nhân vật A Phủ cũng có cảnh ngộ tương đồng như Mị. Nếu Mị trẻ đẹp có đức tính siêng năng cần cù làm ăn thì A Phủ lại vừa khoẻ vừa giỏi gian đã trở thành niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái làng bản. A Phủ cũng hứa hẹn một cuộc sống tự chủ và hạnh phúc nhưng sống trong xã hội phong kiến tàn bạo đó A Phủ cũng rơi vào cạn bẫy cảu chúng. Nếu Mị là con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở trừ nợ. A Phủ cũng chịu cảnh sống khổ đau tăm tối không khác mấy so với Mị. A Phủ sống cô đơn lầm lũi trong rừng nhưng thống lí Pá Tra vẫn chưa buông tha, nhân việc mất một con bò A Phủ đã bị trói đứng, bị hành hạ, bị tước đoạt hoàn toàn sự sống tự do, quyền tự do. Trong nanh vuốt của bọn thống lí Pá Tra nạn nhân không chỉ là Mị và A Phủ mà còn nhiều rất nhiều người khác nữa. Những người đàn bà ở xung quanh Mị trong nhà thống lí cũng có cùng cảnh ngộ, những cảnh bị trói như Mị và A Phủ cũng có nhiều người trải qua và có người đã chết. Diễn tả một sự tương đồng đó nhà văn nhằm gián tiếp khái quát lên một điều những người dân nghèo khổ của miền núi Tây Bắc đều là nạn nhân của bọn phong kiến của bọn thống lí Pá Tra. Đó là một bức tranh đen tối, đó là một hiện thực tối tăm của người dân miền núi khi chưa được Đảng giác ngộ.

Người dân miền núi sống trong sự bất công ngang trái bởi ở đó hiển hiện một thế lực hắt ám. Thế lực đó chính là bọn phong kiến bọn thống trị chúng là thủ phạm chính gây nên những cảnh đời khổ đau, tăm tối cho người dân. Ở trong tác phẩm này đại diện cho bọn thống trị này là cha con nhà thống lí Pa Tra. Thống lí xuất hiện trong tác phẩm như một kẻ chủ mưu cho mọi tội ác. Nó có thể ra lệnh để bắt người vô lí, để đánh trói người một cách tàn nhẫn mà không một chút đắn đo. Sống trong nhà thống lí cũng có nghĩa là sống trong một sự cai quản chắc chắn của nó, hầu như tất cả mọi người đều biến thành nô lệ. Ngoài sức mạnh uy quyền nó còn dùng sức mạnh thần quyền để ràng buộc tự do để bắt con người cam chịu mà phục vụ một cách ngoan ngoãn cho chính quyền lợi của nó. A Sử vừa là con vừa là tay chân của thống lí cũng không kém phần tàn bạo. Nó ngang nhiên bắt Mị về làm vợ, làm nô lệ, nó hành hạ ràng buộc tự do của Mị. Đối với A Sử không chỉ gieo rắc tai hoạ cho một cá nhân như Mị mà nó còn đi phá đám, phá nát niềm vui, vui xuân của bao nhiêu trai gái bản làng khác. Thống lí Pá Tra và A Sử đã trở thành bóng ma hắt ám ám ảnh bao nhiêu số phận người dân miền núi mà chưa thấy điểm dừng. Không chỉ có cha con thống lí mà bọn quan dịch bọn quan lang trong bản làng cũng một bè một cánh hoà nhau gieo rắt tai hoạ cho A Phủ cho dân lành. Phản ánh bọn thống trị đó nhà văn muốn người đọc liên tưởng đến bọn người tàn ác, tàn bạo đang làm điêu đứng những cảnh đời trên những nẻo rừng Tây Bắc.

b. Phản ánh hiện thực đen tối nói trên là chính tác giả đã thể  hiện được sự cảm thông sâu sắc đối với những cảnh đời tối tăm, những con người đau khổ của người dân trên những bản làng Tây Bắc. Sự cảm thông này không dừng ở diễn tả nỗi nhục nhã đau đời của Mị và A Phủ, của bao người dân khác mà nhà văn còn gần như trực tiếp tố cáo vạch trần bản chất tàn bạo của bọn thống trị, của bọn người ăn thịt người ngọt sớt.

Trong quá trình phản ánh hiện thực nhà văn đã phát hiện được tâm hồn và tình cảm của những con người cùng khổ. Đó là tình hữu ái giai cấp, tình thương giữa những người cùng hội cùng thuyền cùng cảnh ngộ. Việc Mị động lòng thương và sẵn sàng hi sinh cứu A Phủ là một nét đẹp như thế.

Đặc biệt nhất trong các cung bậc tình cảm trong những biểu hiện nhân đạo củan hà văn đó là đề cao được sức sống tiềm ẩn và khát vọng tự do của những con người bị đè nén, bị ấp bức, tiêu biểu cho vẻ đẹp này là ở nhân vật Mị.

3. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” đã thành công ở nhiều phương diện, phương diện miêu tả bức tranh hiện thực, bức tranh tâm trạng và đặc biệt hơn hết là thể hiện được quan điểm tiến bộ của nhà văn Tô Hoài trong việc tìm thấy bản chất, sức sống tiềm ẩn, tiềm tàng trong những con người miền núi phải sống trong một xã hội tối tăm mất tự do. Đây là kết quả của nhiều tháng đi thực tế sáng tác trên vùng núi Tây Bắc xa xôi. Tác phẩm này đã thể hiện một sự diễn biến toàn diện về nhận thúc sáng tác của Tô Hoài khi ông cuối xuống phản ánh những cuộc đời bé nhỏ.

 

Advertisements

“Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.

Phân tích cảnh tượng Huấn Cao cho chữ và nêu ý nghĩa của cảnh tượng đó trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.

1. Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Nguyễn Tuân là một tác gia lớn, một cây bút tài hoa độc đáo. Lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân là luôn hướng tới cái đẹp cái cao cả và đề cao tôn vinh cái đẹp cái cao cả đó, đặc biệt là cái đẹp và cái cao cả của con người và văn hoá Việt Nam. Tập truyện “Vang bóng một thời” 1940 là một minh chứng hùng hồn cho lý tưởng thẩm mỹ này của Nguyễn Tuân. Trong tập truyện “Vang bóng một thời” thì truyện ngắn “Chữ người tử tù” là tác phẩm đặc sắc nhất. Truyện đã ca ngợi sự chiến thắng sự bất tử của cái đẹp, cái cao cả hiện thân qua nhân vật Huấn Cao. Đoạn văn tả cảnh Huấn Cao cho chữ đã khắc chạm được một tượng đài chiến thắng của cái đẹp mà tượng đài của cái đẹp này đã toả rạng được nhiều ý nghĩa nhân sinh.

2.a. Truyện ngắn xoay quanh hai nhân vật chính là Huấn Cao và viên quản ngục. Huấn Cao là một nho sĩ tài danh nay chỉ còn vang bóng, còn viên quản ngục là một người say mê chữ đẹp của ông Huấn Cao đang tìm mọi cách để xin chữ. Họ gặp nhau trong một hoàn cảnh oái oan đó là nhà tù. Về bình diện xã hội họ là hai kẻ đối lập nhưng về bình diện nghệ thuật họ là hai kẻ tri âm. Huấn Cao vốn tính rất “khoảnh” không cho chữ những kẻ làm nghề “tàn ác lừa lọc” như viên quản ngục, thế mà việc cho chữ lại diễn ra. Huấn Cao cho chữ viên quản ngục không phải là sự dâng nộp báu vật của kẻ bị trị trước kẻ thống trị mà là sự đáp lại của một tấm lòng trước một tấm lòng. Và cảnh cho chữ đã diễn ra là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.

Không gian cho chữ rất đặc biệt đó là trong buồng giam “chật hẹp ẩm ướt, tường đầy mạn nhện đất bừa bãi phân chuột phân gián” và “một bó đuốc tẩm dầu rọi trên ba đầu người đang chăm chú trên tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ”.

Cảnh cho chữ diễn ra cũng là một cảnh rất đặc sắc “có một người cổ đeo gông chân vướng xiềng đang dậm tô những nét chữ trên tấm lụa trắng tinh”. Trong khi đó những kẻ xin chữ là viên quản ngục và thầy thơ lại thì “khúm núm run run”. Hình ảnh người tử tù cho chữ đã nổi bật uy nghi lồng lộng trong không gian cho chữ còn những kẻ đại diện cho trật tự xã hội lại cúi rạp trước kẻ tử tù đang đeo gông xiềng. Điều đó cho thấy cái ác không còn thống trị mà cái đẹp đã lên ngôi.

Đặc biệt nhất của cảnh tượng cho chữ là lời khuyên của Huấn Cao. Sau khi cho chữ Huấn Cao đã đỡ viên quản ngục đứng dậy mà phán truyền dạy bảo “ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy quản nên thay đổi chốn ở đi, thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi mới nghĩ đến chuyện chơi chữ, ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững”. Lời khuyên bảo của Huấn Cao như lời của đấng bề trên, như là ánh sáng của bó đuốc xua tan bóng tối trong buồng giam, viên quản ngục đã đượ khai tâm, đã ngộ ra và khâm phục khẩu phục. Viên quản ngục đã cảm động nghẹn ngào mà thưa rằng “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Thái độ của viên quản ngục là biểu hiện của sựu quy phục quy hàng trước cái thật, cái đẹp mà hiện thân là ông Huấn Cao.

b. Đoạn văn tả cảnh ông Huấn Cao cho chữ là một quần sáng nghệ thuật toả rạng nhiều ý nghĩa của truyện ngắn “Chữ người tử tù”.

Cảnh cho chữ không phải là cảnh trao nộp báu vật mà là cảnh truyền trao ánh sáng của một khối sao băng, ánh sáng của một nhân cách được giữ trong từng nét chữ để truyền lại cho đời. Cảnh tượng này thể hiện cái đẹp được truyền trao lại và đi vào bất tử cũng có nghĩa là Huấn Cao không chết, Huấn Cao đã đi vào bất tử.

Cảnh tượng Huấn Cao cho chữ là hình ảnh của sự lên ngôi làm chủ của cái đẹp. Cái đẹp, cái cao cả thì dù ở trong hoàn cảnh nào nó cũng vượt lên chiến thắng. Cái tàn ác thấp hèn thì dù sớm hay muộn cũng cuối rạp bị khuất phục trước cái đẹp cái cao cả.

Lời khuyên của ông Huấn Cao trước viên quản ngục đã hàm chứa một triết lí nhân sinh: không chấp nhận cái đẹp sống chung sống lẫn lộn với cái ác.

3. Với nghệ thuật xây dựng hình ảnh đối lập một cách nhuần nhuyễn giữa bóng tối và ánh sáng, giữa viên quản ngục voíư Huấn Cao. Nhà văn đã khắc chạm được một tượng đài về sự chiến thắng của cái đẹp, về sự hoá thân của cái đẹp. Đoạn văn tả cảnh ông Huấn Cao cho chữ là một đoạn văn góp phần quyết định làm nổi bật chủ đề ý nghĩa truyện ngắn “Chữ người tử tù”.

“Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng

Phân tích nghệ thuật trào phúng châm biếm đặc sắc trong “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng.

1. Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) là một nhà văn hiện thực xuất sắc, một cây bút trào phúng bậc thầy. Ông chỉ sáng tác trong một khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương phong phú và giá trị. Đỉnh cao trong sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng là tiểu thuyết “Số đỏ” 1936, một cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học. Tiểu thuyết “Số đỏ” là một pho đại hài kịch, mỗi chương là một màn trò đời bỉ ổi của xã hội âu hoá nửa tây nửa ta trước cách mạng tháng Tám mà Vũ Trọng Phụng thường gọi là xã hội chó đểu. Trong các chương thì chương mười lăm có tên “Hạnh phúc của một tang gia” là chương có giọng điệu trào phúng đặc sắc nhất.

2.a. Trong mọi nền văn học đều có văn chương trào phúng dùng tiếng cười trào lộng để phê phán châm biếm xã hội hay thói đời xấu xa. Trong văn chương Việt Nam có tiếng cười ngạo nghễ của Nguyễn Công Trứ, tiếng cười thâm thuý của Nguyễn Khuyến, tiếng cười chua chát của Tú Xương đến Vũ Trọng Phụng thì ông dùng tiếng cười sảng khoái để lật tẩy trắng đen của xã hội. Thủ pháp nghệ thuật chính mà Vũ Trọng Phụng sử dụng trong chương “Hạnh phúc của một tang gia” là tạo mâu thuẫn và phóng đại để gây cười. Vũ Trọng Phụng đã vin vào cái chết của cụ cố Tổ để đưa lên trang sách “vài ba trăm người” để mà giễu nhại thoả thích. Tiếng cười châm biếm đầu tiên được tác giả xoáy sâu vào tâm trạng của tang gia. Đám tang cụ cố Tổ lẽ ra tang gia rất đau buồn thì không khí chung và mọi thành viên trong gia đình lại rất hạnh phúc.

Cảnh tượng chung của tang gia là tràn trề hạnh phúc “cái chết kia làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Đặc biệt là đám con cháu thì “sung sướng thoả thích”, “tưng bừng đi đưa cáo phó gọi phường kèn”.

Tâm trạng riêng của mỗi thành viên trong gia đình tuy có biểu hiện khác nhau nhưng đều gặp gỡ nhau ở một điểm chung đó là sung sướng hạnh phúc. Người chủ đám tang là cụ cố Hồng, con trai trưởng cụ cố Tổ thì sung sướng đến mức ngồi hút thuốc phiện say sưa đến sáu mươi điếu, nói lảm nhảm một câu vô trách nhiệm “biết rồi khổ lắm nói mãi” đến 1872 lần. Cụ mơ màng nghĩ đến lời khen của thiên hạ khi đám tang diễn ra. Ông Văn Minh cháu đích tôn của cụ cố Tổ thì mừng ra mặt vì “cái chúc thư kia sẽ vào kỳ thực hành chứ không còn lý thuyết viễn vong nữa”. Còn bà Văn Minh thì “sốt cả ruột” vì chưa được trình diễn đồ tang của tiệm may âu hoá. Cậu Tú Tân thì cứ “điên người lên” vì đám tang chưa chịu diễn ra để được chụp hình thoả thích. Ông Phán mọc sừng có lẽ là người mừng nhất vì ông được cụ cố Hồng bố vợ nói nhỏ sẽ chia thêm hai nghìn đồng bù vào danh dự nên nghĩ cách doanh thương với Xuân Tóc Đỏ. Bà cố Hồng thì lo đi sang nhà vị hôn thê của cô Tuyết con gái để vận động chạy cưới tang. Không khí vui tươi hạnh phúc của gia đình lan toả ra ngoài làm cho hai viên cảnh sát Min Đơ, Min Tra cũng sung sướng cực điểm.

Qua tâm trạng của các thành viên trong gia đình cụ cố Tổ ta thấy tất cả họ đều sung sướng hạnh phúc. Đám con cháu từ già đến trẻ không hề có một điệu buồn, một giọt nước mắt. Đúng là một lũ người âu hoá bất nhân bất nghĩa.

b. Cụ cố Tổ là một bậc đại gia trưởng lão rất đáng kính, cụ luôn bảo vệ những nét gia phong truyền thống nên khi cụ nghe tin cháu gái ngoại tình nên đã uất ức lên mà chết. Như thế lẽ ra đám tang cụ cố Tổ phải được tổ chức theo lối truyền thống theo lối ta trang nghiêm thành kính, thì đám tang lại được tổ chức bát nháo theo kiểu âu hoá rởm đời.

Đám tang cụ cố Tổ được bọn người xưng danh là âu hoá đã tổ chức “theo cả lối ta tàu tây” có “kèn ta kèn tây kèn tàu” rộn lên bát nháo như một đám hội chợ. Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã tập trung ngòi bút dựng lên cảnh tượng của đám đông đi đưa tang với một sự ngược đời kì lạ chưa từng có. Đám tang có đến “vài ba trăm người đi đưa” đủ mặt các tầng lớp của xã hội thượng lưu âu hoá nhưng không có một ai mang bộ mặt tâm trạng của người đi đưa tang. Những người bạn già của cụ cố Hồng lẽ ra trang nghiêm nhất thì lại là kịch cỡm đểu giả nhất. Họ đi đưa tang mà ngực đeo đầy huân chương như đi giễu hành dự hội, đểu giả hơn là mắt cứ dán vào làn da trắng thập thò của cô gái tân thời không hề chú ý đến đám tang. Những người khác thì đi đưa tang nhưng không hề chú ý đến đấm tang mà chỉ lo “chuyện trò về vợ con, về nhà cửa, về cái tủ mới sắm, cái áo mới may”. Đặc biệt là những người bạn gái của cô Tuyết, bà Hoàng Hôn, bà Văn Minh thì “cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau”. Tất cả bọn họ không hề có một giọt nước mắt, một nét buồn phù hợp với một đám tang.

Cao tào của màn kịch của đám tang là cảnh hạ huyệt. Lẽ ra cảnh hạ huyệt là lúc tang gia đau thương nhất thì lại là lúc bộc lộ bộ mặt giả nhân giả nghĩa nhất. Ông Phán mọc sừng, đứa cháu rể “quý hoá”  giả đò khóc hức hức để mượn cớ tựa người vào Xuân Tóc Đỏ để dúi tờ bạc năm đồng gấp tư, thanh toán nốt tiền công cho Xuân Tóc Đỏ đã có công giết cụ cố Tổ.

Không chỉ những thành viên trong gia đình tang gia mà cả vài ba trăm con người trong đám tang cũng không ai có một nét buồn đúng nghĩa, một giọt nước mắt cho người quá cố. Dựng lên bộ mặt giả nhân giả nghĩa được thể hiện qua đám tang nhà văn nhằm phê phán cái xã hội nửa tây nửa ta, một xã hội chó đểu.

3. Với ngòi bút châm biếm sắc xảo, Vũ Trọng Phụng đã đưa lên trang sách đầy đủ bộ mặt của bọn thượng lưu để chỉ mặt vạch tên về bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chúng. Thông qua tiểu thuyết “Số đỏ” nói chung chương này nói riêng, nhà văn nhằm phê phán cái xã hội thượng lưu rửa bùa đã làm băng hoại những giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc.

“Đây thôn Vĩ Dạ” cảu Hàn Mạc Tử.

Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” cảu Hàn Mạc Tử.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

1. Nhà thơ Hàn Mạc Tử (1912 – 1940) là một đại biểu xuất sắc của phong trào thơ mới trước cách mạng tháng Tám. Hàn Mạc Tử là một nhà thơ có sức sáng tạo đặc biệt, thơ ông thường rất thành công khi viết về đề tài thiên nhiên đất nước con người. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một minh chứng cho sự thành công này. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ thành công và hoàn mỹ trên nhiều phương diện từ cảm xúc nội dung đến diễn tả phản ánh. Thành công nhất ở bài thơ này là là thơ đã sử dụng bút pháp mượn cảnh tả tình. Đạon thơ mở đầu bài thơ là sự thể hiện một cách thành công nhất của bút pháp này, tác giả viết:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

2.a. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” có một xuất xứ hoàn cảnh sáng tác rất đặc biệt, đó là khi Hàn Mạc Tử nhận được một tấm bưu ảnh về Huế và từ đó ký ức về những ngày sống ở Huế trỗi dậy, nhà thơ đã xúc cảm viết bài thơ này, lúc đầu có tên “Ở đây thôn Vĩ Dạ”. Từ một bức hình một tấm ảnh, nhà thơ đã hoá thân trở thành một nhân vật trữ tình của thôn Vĩ để mà giải bày tâm trạng, để giải bày cung bậc tâm trạng của mình. Mở đầu bài thơ là một câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Là câu hỏi nhưng không phải để trả lời mà là để thể hiện một sự trách móc nhẹ nhàng nhưng đúng hơn là để mời gọi.

b. Như trên đã nói sau lời trách móc là có ý mời gọi nên những câu thơ tiếp theo nhân vật trữ tình đã đưa ra những cái cớ để mời gọi. Trước hết đó là vẻ đẹp của không gian thôn Vĩ vào những buổi sáng bình minh. Câu thơ “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên” là câu thơ có sức gợi lớn về sức lôi kéo cuốn hút liên tưởng cho người đọc. Nói về hình ảnh thiên nhiên trong đó có hàng cau vút cao giữa mảnh vườn thôn Vĩ, nhưng nhà thơ không đi vào miêu tả cụ thể chi tiết mà chỉ gợi lên một sự hoà sắc giữa nắng buổi sáng với sự xanh mướt của hàng cau. Không cần đặt tả cây cau cao hay thấp, nắng sứom màu gì nhưng người đọc vẫn liên tưởng được một không gian buổi sáng thật tươi mới, thật tinh khiết, thật thanh bình và thật hấp dẫn. Cái ấn tượng của câu thơ là hình ảnh hàng cau, hàng cau vừa thể hiện được cái điểm nhìn đầu tiên khi nói đến khu vườn, vừa khái quát được đó là khu vườn truyền thống. Với một vài nét đặc tả cây cau và nắng buổi sáng nhà thơ đã dựng lên được gợi lên được không gian một vườn quê rất Huế rấy Việt Nam. Cái tài hoa của tác giả chính là ở chỗ đó.

c. Câu thơ thứ ba tác giả mở rộng hơn tầm nhìn về không gian khu vườn thôn Vĩ đó là một không gian tất cả đều “mướt quá xanh như ngọc”. Chỉ cần một từ “mướt” để diễn tả sắc thái khu vườn cũng đã đủ cho người đọc liên tưởng đến một khu vườn xanh non mượt mà. Nhưng nhà thơ chưa dừng lại ở đó, nhà thơ còn tiếp tục nhấn mạnh mướt là mướt xanh, xanh đến như ngọc. Cách nói nhấn mạnh này làm cho người đọc bị cuốn hút vào một sắc thái non tơ, tươi mới của cảnh vườn thôn Vĩ. Cảnh vườn này đặt trong một tổng thể hoà nhập với nắng hàng cau buổi sớm, tất cả đó gợi lên một không gian thật hấp dẫn, có sức lay gợi mời gọi con người. Nhà thơ không nói mời gọi cụ thể mà là mượn cảnh để mời gọi khách xa. Đó là một cách nói rất Hàn Mạc Tử, người xưa mượn cách, mượn cảnh tả tình này sự “hoạ vân xuất nguyệt”.

d. Nếu như ba câu thơ trên còn thiên về tả cảnh, thiên về tạo dựng một không gian thì câu thơ cuối của khổ thơ này là câu thơ có hồn nhất, hình ảnh “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” sẽ nói lên điều đó. Trong dân gian khi nói về gương mặt chữ điền là muốn nói về gương mặt của những con người phúc hậu. Hình ảnh “mặt chữ điền” ở đây không phải là một sự miêu tả cụ thể mà là một cách nói mang tính ấn tượng, mang tính tượng trưng, một cách nói rất phổ biến trong thơ Hàn Mạc Tử. Vấn đề toát lên ở câu thơ này là thấp thoáng sau bóng trúc của khu vườn mướt xanh như ngọc đó là có hình ảnh của con người. Đó là con người đang độ xuân sắ dịu dàng phúc hậu đáng yêu. Đặt con người bên hình ảnh sự non tơ của khu vườn, tác giả cũng ngầm ý nói lên con người ở đây cũng đang độ xuân sắc. Cả đoạn thơ là lời trách móc mời gọi của nhân vật trữ tình thôn Vĩ thì dĩ nhiên sự ẩn hiện thấp thoáng của con người ở đây sau bóng trúc đó là một con người đợi chờ, đó là lo gíc tâm lí.

3. Bài thơ “Đây thônVĩ Dạ” là một bài thơ đặc sắc trong sự nghiệp sáng tác của Hàn Mạc Tử. Cũng với cách nói đó ta cũng có thể khẳng định đoạn thơ này là đoạn thơ hay nhất của bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Cái hay mang tính tổng thể của đoạn thơ là sự phối hợp, phối kết một cách nhuần nhuyễn giữa cảnh và người, giữa tả cảnh và tả tình. Một bức tranh rất cụ thể nhưng người đọc có cảm giác vừa gần vừa xa, vừa thực vừa ảo. Ở đoạn thơ này cái tạo nên ấn tượng lay động người đọc đó là những hình ảnh thơ rất mới lạ rất độc đáo mà trong thơ ca Việt Nam ta rất ít gặp như hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên”, hình ảnh “mướt quá xanh như ngọc”, hình ảnh “lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Và một điều rất đặc biệt là nhà thơ đã vận dụng rất hợp lí giữa đại từ nhân xưng truyền thống “ai” với đại từ nhân xưng hiện đại “anh”, nhờ cách nói đó mà làm cho đoạn thơ vừa cổ kính vừa hiện đại, vừa truyền thống vừa cách tân.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Nêu tóm lược sự nghiệp và phong cách thơ văn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

1. Hồ Chí Minh (1890 – 1969) không những là nhà cách mạng vĩ đại mà còn là nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc. Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Người đã để lạo cho đời một sự nghiệp văn chương phong phú về thể loại, đặc sắc độc đáo về phong cách. Sự nghiệp và phong cách Hồ Chí Minh có thể tóm lược như sau.

2.a. Hồ Chí Minh viết bằng ba thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Việt và bằng ba thể loại chính là văn chính luận, truyện ký và thơ ca.

Văn chính luận là một bộ phận văn chương được viết ra để phục vụ mục đích chính trị như đấu tranh trực diện với kẻ thù hoặc bàn luận những vấn đề quan trọng của cách mạng. Từ những năm 20 của thế kỷ xx, Nguyễn Ái Quốc đã viết hàng loạt bài văn chính luận bằng tiếng Pháp tiêu biểu là bài “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Bài văn chính luận này vừa nhằm mục đích tố cáo tội ác của chế độ thực dân Pháp vừa nhằm mục đích thức tỉnh quần chúng thuộc địa. Khi cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã viết “Tuyên ngôn độc lập” là một kiệt tác văn chính luận, “Tuyên ngôn độc lập” vừa có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, giá trị nhân văn và giá trị nghệ thuật. Ngoài ra Hồ Chí Minh còn có nhiều bài viết khác như “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” 1946, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” 1966, “Di chúc” 1969. Những tác phẩm này đề cập đến những vấn đề cấp bách và những vấn đề về tình cảm gắn bó của Hồ Chí Minh với đồng chí, đồng bào.

Truyện ký chủ yếu được Nguyễn Ái Quốc viết từ 1922 – 1925 bằng tiếng Pháp trên đất Pháp. Tiêu biểu là truyện ngắn “Lời than vãn của bà Trưng Trắc” 1922, “Vi hành” 1923, “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu” 1925. Ngoài ra thời kỳ sau này Hồ Chí Minh còn viết một số truyện ký khác như “Giấc ngủ mười năm” 1949, “Vừa đi đường vừa kể chuyện” 1963.

Thơ ca là sự nghiệp gí trị nhất, nổi bật nhất của Hồ Chí Minh được tập hợp trong ba tập chính là “Nhật ký trong tù” 134 bài, “Thơ Hồ Chí Minh” 86 bài, “Thơ chữ Hán Hồ Chính Minh” 36 bài. “Nhật ký trong tù” 1942 – 1943 là tập thơ tiêu biểu nhất của Hồ Chí Minh, tập thơ là một bản cáo trạng đối với nhà tù và xã hội Tưởng Giới Thạch, là bản tự thuật về tâm hồn khí phách của Hồ Chí Minh. Ngoài “Nhật ký trong tù” bộ phận thơ ca chống Pháp là một bộ phận có giá trị cả nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là “Rằm tháng giêng”, “Cảnh khuya”, “Cảnh rừng Việt Bắc”, “Đi thuyền trên sông Đáy”. Bên cạnh đó Hồ Chí Minh còn có một bộ phận thơ chữ Hán viết tự thuật về những chặng đường của mình cũng như để tặng lại những người bạn tri âm tri kỷ.

b. Thơ văn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có một phong cách rất đa dạng nhưng cũng rất độc đáo. Mỗi thể loại có một phong cách riêng.

Văn chính luận bộc lộ một tư duy sắc sảo, giàu tính luận chiến và đặc biệt là giàu trí thức văn hoá và thực tiễn.

Truyện ký có lối kể chuyện chân thực, có cách tạo không khí gần gũi, có giọng châm biếm, sắc sảo, thâm thuý, tinh tế và giàu chất trí tuệcũng như tính hiện đại.

Thơ ca mang đậm phong cách thơ cổ phương Đông, nói ít gợi nhiều, hoạ vân xuất nguyệt.

3. Tuy không phải chủ trương lập thân bằng văn chương nhưng với tâm hồn và tài năng của mình, Hồ Chí Minh đã để lại một sự nghiệp văn chương phong phú, có giá trị không những là giá trị về nội dung thể loại mà còn để lại một giá trị về phong cách. Vì thế sự nghiệp thơ văn Hồ Chí Minh là bài học vô giá cho những người cầm bút chân chính.

Nêu quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh.

1. Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam. Là người mở đường cho nền văn học cách mạng cho nên Hồ Chí Minh đã hiểu sâu sắc vai trò xứ mệnh của văn chương nghệ thuật, vì thế người đã đề ra những quan điểm sáng tác rất đúng đắn và thiết thực.

2.a. Sinh thời Hồ Chí Minh không chủ trương viết văn, làm thơ nhưng do yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nên       Hồ Chí Minh đã sáng tác văn chương để phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng. Hồ Chí Minh đã coi văn chương nói riêng, nghệ thuật nói chung là một hoạt động tinh thần phong phú có hiệu quả trong sự nghiệp cách mạng. Và người nghệ sĩ có vai trò như là người chiến sĩ trong sự nghiệp cách mạng ấy. Quan điểm này được Hồ Chí Minh phát biểu lần đầu tiên trong tập “Nhật ký trong tù” qua bài “Cảm tưởng đọc thiên gia thi”, Hồ Chí Minh viết:

“Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Hồ Chí Minh không chỉ đề ra quan điểm đó cho người sáng tạo văn chương mà còn đề ra cho những người sáng tạo nghệ thuật khác. Điều này được thể hiện trong bức thư gửi cho các họa sĩ nhân cuộc triển lãm hội họa 1951, Hồ Chí Minh viết “Văn hóa văn nghệ là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

b. Sau khi nêu quan điểm sáng tác, Hồ Chí Minh còn nêu quan điểm về đối tượng phục vụ của văn chương nghệ thuật tức là đối tượng thưởng thức văn nghệ văn chương. Theo Hồ Chí Minh đối tượng phục vụ của văn chương là quảng đại quần chúng nhân dân. Quan điểm này được Hồ Chí Minh nêu ra khi truyền đạt kinh nghiệm viết cho những người cầm bút. Hồ Chí Minh cho rằng trước khi viết phải đặt ra các câu hỏi là viết cho ai? (đối tượng viết), viết để làm gì? (mục đích viết), viết cái gì? (nội dung viết), viết như thế nào? (hình thức viết). Như vậy đối tượng mục đích sẽ góp phần quy định nội dung và hình thức viết cho tác phẩm.

c. Theo Hồ Chí Minh văn chương muốn trở thành tinh thần, vũ khí sắc bén của cách mạng thì phải có tính chân thực. Tính chân thực ở đây được hiểu là phản ánh đúng hiện thực, không tô hồng hay bôi đen hiện thực cuộc sống. Quan điểm này được Người nêu ra trong lời phát biểu khai mạc triển lãm hội họa trong những năm đầu cách mạng. Sau khi xem triển lãm Người đã nhắc nhở rằng “chất mơ mộng nhiều quá mà chất thật của sự sinh hoạt lại rất ít” và Người yêu cầu phải “miêu tả cho hay cho thật hùng hồn” phải chú ý đến gương người tốt việc tốt. Song song với tính chân thực Hồ Chí Minh còn yêu cầu văn nghệ sĩ phải chú ý đến hình thức sáng tác dễ hiểu, hấp dẫn và chú ý đến sự trong sáng của tiếng Việt.

3. Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh nêu ra đã có tác dụng to lớn đối với sự phát triển đúng hướng của nền văn học cách mạng. Quan điểm đó ngày nay vẫn còn nguyên giá trị cho những người cầm bút.

“Tây Tiến” của Quang Dũng.

Phân tích đoạn thơ sau đây trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

1. Trong số những nhà thơ xuất hiện trong buổi đầu chống Pháp thì Quang Dũng (1921 – 1988) là một đại biểu xuất sắc. Thơ Quang Dũng để lại không nhiều chỉ có một tập “Mây đầu ô” nhưng để lại rất nhiều ấn tượng cho người đọc. Nhiều bài thơ của ông đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật của nền thơ ca hiện đại Việt Nam trong đó tiêu biểu là bài “Tây Tiến”. Bài thơ “Tây Tiến” 1948 được viết bằng bút pháp lãng mạn. Lãng mạn trong bài “Tây Tiến” là dữ dội hoá, hào hùng hoá, hào hoa hoá vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Bài thơ gồm ba phần thơ ứng với ba chặng đương hành quân, dừng chân, chiến đấu của đoàn binh Tây Tiến. Phần đầu gồm 14 câu là phần thơ giàu chất hội hoạ nhất, tác giả viết:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

2.a. Bài thơ lúc đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến” sau đó được tác giả sửa lại là “Tây Tiến”. Tuy không còn chữ nhớ ở nhan đề nhưng cảm xúc chung của toàn bài thơ là nỗi nhớ Tây Tiến. Hai câu thơ mở đầu đoạn thơ tác giả khẳng định nỗi nhớ hcung đó.

 

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Đoàn binh Tây Tiến được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới Việt Lào và phối hợp với bộ đội Lào đánh Pháp ở vùng thượng Lào. Địa bàn hoạt động của Tây Tiến gắn liền với vùng đầu nguồn sông Mã nên khi nhắc đến Tây Tiến tác giả đã thốt lên: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”.

Không chỉ dừng lại ở địa điểm nhớ, phạm vi nhớ mà tác giả còn nhấn mạnh ở cung bậc nhớ “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”. Nhớ chơi vơi là nỗi nhớ vô định, nhớ vô lượng không đong đếm được. Với nghệ thuật sử dụng vần ơi ở cuối hai câu thơ càng làm cho nỗi nhớ như rộng dài vô cùng vô tận.

b. Sau khi khẳng định cảm giác nỗi nhớ nhung tác giả gợi ra những hình ảnh của không gian núi rừng rất cụ thể để ấn tượng hoá, khắc đậm hoá nỗi nhớ.

Ấn tượng mang tính ám ảnh nhất về những vùng rừng núi mà đoàn binh Tây Tiến đã từng vượt qua đó là một vùng khí hậu khắc nghiệt.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Đi qua rừng núi đã đồng nghĩa với gian khổ mà đi qua rừng núi với “sương lấp”, “đêm hơi”, “mưa xa khơi” lại càng gian khổ rất ngàn lần. Ta đã từng đọc những câu thơ viết về thời kỳ này ở Việt Bắc như “nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ” (Chế Lan Viên), “đêm nay rừng hoang sương muối” (Chính Hữu) càng cảm nhận sâu sắc hơn về cảm nhận của tác giả khi nghĩ về một vùng rừng núi ẩm ướt khắc nghiệt mà đoàn binh Tây Tiến đã từng vượt rừng xuyên núi “đi lùng giặc đánh” (Nhớ – Nguyên Hồng)

Ghê gớm hơn nữa của không gian rừng núi, đầu nguồn sông Mã là địa bàn hiểm trở.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Về mặt nghệ thuật đây là đoạn thơ giàu chất hội hoạ nhất. Về nội dung tả thực đây là hình ảnh một không gian núi cao, vực sâu, dốc thẳm, hoang vu hiểm trở dữ dội nhất. Đoạn thơ vừa tả được cảnh chiều cao vừa tả được cảnh chiều rộng để gợi lên một không gian rợn ngợp của núi rừng đối lập hoàn toàn với sức người nhỏ bé.

Sự khắc nghiệt rợn ngợp của không gian rừng núi với đoàn binh Tây Tiến không phải là chỉ một lúc một nơi mà kéo dài theo cả chiều thời gian.

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Người lính Tây Tiến đâu chỉ chịu cảnh khí hậu khắc nghiệt, núi rừng hiểm trở mà còn chịu cảnh hung dữ của núi rừng thác gầm cọp dữ.

Tất cả những cái dữ dội nói trên của núi rừng là những chướng ngại ghê gớm cho đoàn binh Tây Tiến. Khi va đập với những chướng ngại đó thì vị tất phải có sự hi sinh.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Nhưng không chỉ là tất cả mà là tất cả đang đứng ở phía trước, đang đứng ở đỉnh non cao theo hút chạm trời kia: súng ngửi trời. Súng ngửi trời là hình ảnh ẩn dụ cho người lính Tây Tiến. Súng ngửi trời là sự khẳng định vượt tầm của người lính vượt lên trên tất cả những chướng ngại của núi rừng. Hình ảnh này đúng như Tố Hữu đã từng viết trong bài thơ “Lên Tây Bắc”.

“Rất đẹp hình anh dưới nắng chiều

Nắng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo”

Bằng sự khắc hoạ một cách ấn tượng về những chướng ngại của núi rừng với người lính Tây Tiến, tác giả nhằm đề cao sự vượt lên trên không gian của núi rừng của đoàn binh Tây Tiến. Đó là nghệ thuật dữ dội hoá, hào hùng hoá hình ảnh vẻ đẹp của đoàn binh Tây Tiến.

c. Ký ức của nhà thơ không chỉ dừng lại nơi ngút ngàn rừng núi mà đoàn binh Tây Tiến vượt qua chiến đấu, mà còn dừng lại ở những bản làng mà Tây Tiến dừng chân.

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Hai câu thơ có sức gợi cảm lớn, khi Tây Tiến cơm lên khói cũng là lúc bản làng Mai Châu bay hương nếp xôi. Dùng hai hình ảnh khói cơm, hương nếp xôi hoà quyện đằm thắm tác giả nhằm gợi lên sự gần gũi hoà hợp tình quân dân cá nước. Như thế đoàn binh Tây Tiến đâu chỉ anh hùng mà còn rất nhân đạo nhân văn, rất gần gũi với quần chúng nhân dân. Đó cũng là một nét đẹp của đoàn binh Tây Tiến.

3. Phần thơ mở đầu nếu tách ra cũng có giá trị như một bài thơ độc lập. Bởi đoạn thơ đã khắc chạm được vẻ đẹp của người lính trước sự dữ dội mênh mông với đất trời, một vẻ đẹp vừa hào hùng vừa nhân đạo hào hoa. Đọc đoạn thơ ta cảm phục về tài nghệ tả tình tả cảnh rất ấn tượng của tác giả. Đồng thời đọc đợn thơ ta cũng cảm nhận được tấm lòng tình cảm của nhà thơ chiến sĩ Quang Dũng với đồng chí đồng đội một thời chiến đấu hoà hùng.

 

“Vợ nhặt” của Kim Lân

Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

1. Kim Lân được mệnh danh là một nhà văn nông thôn của đồng bằng Bắc Bộ, ông viết không nhiều nhưng lại có nhiều tác phẩm nổi tiếng. Ngòi bút của Kim Lân đã chứng minh cho chân lí “quỷ hồ tinh bất quỷ hồ đa”. Cho đến nay Kim Lân đã có nhiều tác phẩm vào hàng đặc sắc trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Truyện ngắn “Vợ nhặt” được viết năm 1954 và in trong tập truyện “Con chó xấu xí” 1962. “Vợ nhặt” lấy hiện thực về nạn đói khủng khiếp tháng 3 năm 1945 làm nền từ đó mà nhà văn đi vào miêu tả tâm lí, phẩm chất của những con người cùng khổ trong thời tao loạn. Tiêu biểu trong việc miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân đó là tâm lí bà cụ Tứ. Thông qua tâm lí bà cụ Tứ tác giả đã nói được rất nhiều điều về tình người.

2. Truyện ngắn “Vợ nhặt” xoay quanh câu chuyện của nhân vật chính có tên là Tràng. Tràng vốn là một người xấu xí nghèo đói và sống trong xóm ngụ cư giữa thời tao loạn. Rất khó lấy vợ nhất là trong thời điểm nạn đói hoành hành dữ dội con người đang gồng mình chống chọi với cái chết để tồn tại. Thế mà bỗng nhiên một hôm Tràng lại dẫn về xóm ngụ cư người đàn bà và coi đó là vợ của mình. Việc Tràng có vợ đã tạo nên những tâm trạng khác thường ở xóm ngụ cư và cả người mẹ khốn khổ của Tràng.

Việc xuất hiện một người đàn bà đứng đầu giường của Tràng khi bà cụ Tứ lọng khọng trở về đã khiến bà rất ngạc nhiên. Ngạc nhiên đến mức bà không tin vào mắt mình “bà dụi mắt cho đỡ nhoèn”, ngạc nhiên hơn nữa là khi người đó chào mình bằng u. Là một người đàn bà từng trải bà nhanh chóng hiểu ra cơ sự rằng đó là vợ của Tràng, thế là từ ngạc nhiên bà chuyển sang mừng vì dù sao thì con bà cũng lấy được vợ. Sau thoáng chốc mừng vui bà lại tủi hờn cho số kiếp của con bà, cho chính bản thân bà. Bà làm mẹ mà không lo nỗi hạnh phúc cho con đành để Tràng đi tìm vợ trong lúc khốn khổ. Trước sự mừng tủi là nỗi lo choáng ngập lòng bà. Bà lo vì không biết “chúng nó có nuôi nổi nhau qua kỳ đói khát này không”. Đó là những tình cảm đan xen lẫn lộn trong lòng của một người mẹ già khốn khổ vào một thời điểm cảnh sống làng quê đen tối, cõi âm đang bao trùm lên sự sống.

Điều đáng quý ở bà cụ Tứ là sau khi hiểu cơ sự trong lòng bà xuất hiện niềm vui dẫu đó là vui gượng, một niềm vui nặng cánh. Bà vui để động viên các con bà vượt qua cái thời điểm khắc nghiệt nhất. Bà liên tục nói về những viễn cảnh và nói về chuyện sửa nhà, chuyện là chuồng nuôi gà, chuyện triết lí ở đời “không ai giàu ba họ không ai khó ba đời”. Không dừng lại ở đó niềm vui của bà còn được thể hiện qua hành động dọn dẹp nhà cửa sân vườn và động viên con trong bữa ăn sáng. Nhờ tấm lòng người mẹ già đó mà vợ chòng Tràng có một niềm tin hơn, càng yêu nhà mình hơn, cùng mơ về lá cờ đỏ sao vàng, mơ về một sự thay đổi.

Qua những cung bậc tình cảm của bà cụ Tứ, trước hết nhà văn muốn đề cao vấn đề tình người, tình đời. Nhà văn muốn nhấn mạnh một triết lí, muốn chân lí trong những cơn đói khổ hoạn nạn nếu có tình người thì vẫn có sức mạnh để vượt qua những cơn bi cực của cuộc đời. Một ý nghĩa không kém phần quan trọng đó là tấm lòng của người mẹ, người mẹ dù ở trong hoàn cảnh nào cũng muốn con mình hạnh phúc và luôn luôn khát khao hạnh phúc.

3. Điều chúng ta cảm phục về tài nghệ của Kim Lân trong truyện ngắn này không chỉ dừng lại ở việc xây dựng tình huống truyện độc đáo mà còn ở chổ miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế và hợp lí. Tác phẩm này không chỉ là phản ánh hiện thực đen tối mà chủ yếu là phản ánh vẻ đẹp tâm hồn con người. Việc phản ánh tâm trạng của các nhân vật nói chung, của bà cụ Tứ nói riêng đã góp phần tích cực cho mục đích diễn tả tình người trong tác phẩm. Phản ánh đời sống tình cảm của con người trong cơn tao loạn nhà văn đã có một thái độ rất trân trọng.